Thứ Bảy, ngày 01 tháng 11 năm 2014

Về khối tài sản khổng lồ của bà Nguyễn Hồng Phương, em gái ruột Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng



Ông Hồ ngậm một quả đắng lòng khi SH không liên quan gì đến dòng giống của ông cả. Người cháu thật của ông là HĐV nguyên Trưởng ban TC TƯ đã bị gạt bỏ không thương tiếc. Khối tài sản này tôi góp lời gửi đến ông Trọng, ông cũng sẽ ngậm quả đắng thôi - không làm gì nổi chúng nó đâu. Ông chỉ gỡ gạc sĩ diện bằng cách nói SỢ VỠ BÌNH để che đậy mình đéch làm gì được chúng nó. (TTP)

Nguyễn Hồng Phương là một nhân tố bí ẩn trong giới tài chính cũng như thị trường chứng khoán, mọi thông tin về bà hầu như không được public, người ta chỉ biết bà là em gái ruột của đương kim Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đồng thời là chủ tịch HĐQT tập đoàn SSG đang thống lĩnh thị trường bất động sản tại thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh thành trên cả nước.
Vài nét về tiểu sử, Nguyễn Hồng Phương sinh ngày 03/12/1962 tại Nam Đàn, Nghệ An. Với gia thế hiển hách, bà được hưởng nhiều ưu ái của Đảng, Nhà nước ngay trong những năm tháng khó khăn của thời cuộc: Năm 1975, bà được  ra Hà Nội học cấp 3 tại trường Trung học phổ thông Thăng Long. Năm 1981, được tuyển thẳng vào Đại học Tài chính Kế toán Hà Nội. Đến năm 1996, khi tròn 34 tuổi bà vào thành phố Hồ Chí Minh, cùng với sự thăng hoa chính trường của người anh cả Nguyễn Sinh Hùng, bà đã từng bước dựng lên đế chế SSG hôm nay từ một cửa hàng sao chép, kinh doanh đĩa lậu mang tên Bách Việt. Một số bước ngoặt trong sự nghiệp của Nguyễn Hồng Phương:
                  Bà Nguyễn Hồng Phương và cánh tay phải – ông Đinh Ngọc Ninh (TGĐ SSG)
  • Năm 1996, bà Nguyễn Hồng Phương vào TP HCM lập nghiệp, mở Công ty TNHH Sản xuất & Thương mại Bách Việt tại Quận Tân Bình, chuyên kinh doanh sao chép, kinh doanh đĩa lậu.
  • Tháng 3/2003, Phương mở thêm công ty Công ty TNHH 1 thành viên Đĩa tin học Bách Việt tại xã Mỹ Xuân (Tân Thành, Bà Rịa-Vũng Tàu).
  • Tháng 9/2003, Phương với sự tư vấn của cháu ruột Nguyễn Sinh Nhật Tân Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Công thương ( là con đẻ của Nguyễn Sinh Hùng ) bắt đầu chuyển sang kinh doanh thị trường bất động sản với việc thành lập Công ty TNHH Kinh doanh và Cho thuê nhà Tân Bách Việt với các hoạt động mua bán, cho thuê và môi giới bất động sản.
  • Tháng 10/2003, đây là bước ngoặt trong sự nghiệp kinh doanh của Nguyễn Hồng Phương khi thành lập Công ty Cổ phần Địa ốc và Xây dựng SSG với số vốn chỉ vài trăm triệu đồng, chỉ một thời gian ngắn sau đó, tháng 3/2004, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Sinh Hùng đã huy động 6 cổ đông góp vốn vào SSG (Tổng Công ty Vật liệu Xây dựng số 1 (Doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Bộ Xây dựng): 300 triệu; Công ty Cổ phần XNK Việt Trang: 580 triệu; Công ty TNHH SX TM Nhất Phương: 340 triệu; Công ty TNHH TMDV Linh Thành: 110 triệu; Công ty TNHH XDTM Thuận Việt: 100 triệu và Công ty TNHH TM Nguyễn Đặng: 20 triệu), nâng tổng vốn điều lệ của SSG khi ấy lên 20 tỷ và Nguyễn Hồng Phương nghiễm nhiên được bầu làm Chủ tịch HĐQT.
  • Tháng 3/2007, Phương cùng chồng (ông Đặng Chính Trung) góp 34 tỷ và huy động thêm 13 cổ đông nữa (bà Huỳnh Thị Kim Lưu: 24 tỷ; ông Ðặng Quốc Khánh:8.4 tỷ; ông Đinh Thọ Văn Nam: 7 tỷ; ông Trần Hoàng Hải: 6 tỷ; ông Nguyễn Minh Thịnh: 5 tỷ; bà Nguyễn Thị Thanh Thủy: 5 tỷ; ông Võ Thành Hiểu Nam: 3.5 tỷ; ông Nguyễn Thanh Cường: 2 tỷ; ông Trần Đình Quân: 1.5 tỷ; bà Nguyễn Thị Mai Hoa: 1.03 tỷ; ông Nguyễn Thanh Tùng: 1 tỷ; ông Trần Phương Đông: 1 tỷ; bà Bùi Thị Kim Thoa: 500 triệu) để lập Công ty cổ phần công nghệ và đầu tư Bách Việt tại Khu công nghiệp Mỹ Xuân A, Xã Mỹ Xuân, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với tổng vốn điều lệ 100 tỷ đồng.
  • Tháng 09/2007, Tân Ủy viên BCT, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng đã chỉ đạo Tổng Công ty Vật liệu Xây dựng số 1 (Bộ Xây dựng) tiếp tục "góp vốn" cùng Nguyễn Hồng Phương thành lập Công ty TNHH Đầu tư Xây dựng Tân Bách Việt với vốn điều lệ 80 tỷ đồng.

Từ 2005 đến nay, các vị trí đắc địa, các khu đất vàng của thành phố HCM hầu hết đã vào tay SSG, có thể kể sơ các dự án như: SaigonPearl, Thảo Điền Pearl, Văn Thánh, Thanh Đa, Tân Cảng,... Cùng với sự thăng tiến sự nghiệp chính trị của ông Nguyễn Sinh Hùng, số vốn của SSG và khối tài sản riêng của bà Phương đã có sự thay đổi chóng mặt:
  • Tháng 04/2007, SSG đã nâng tổng số vốn lên 450 tỷ với sự biến mất của 3 cổ đông sáng lập lớn nhất: Tổng Công ty Vật liệu Xây dựng số 1 (Bộ Xây dựng), Công ty Cổ phần XNK Việt Trang, Công ty TNHH SX TM Nhất Phương, thay vào đó là các “cá nhân” như ông Đinh Ngọc Ninh (76.5 tỷ), bà Phan Thị Ngân (22.5 tỷ), bà Nguyễn Thị Giang (22.5 tỷ), trong đó Phương chiếm 26% cổ phần (117 tỷ).
  • Tháng 12/2009, SSG đã nâng tổng số vốn lên 550 tỷ đồng và đổi giấy phép kinh doanh thành Công ty Cổ phần Tập đoàn SSG, lấn sân thêm 2 lĩnh vực là giáo dục và y tế.
  • Đến tháng 12/2011, SSG đã nâng tổng số vốn lên tới 825 tỷ đồng.
Đánh dấu sự lấn sân qua thị phần giáo dục là việc thành lập Trường Phổ thông Quốc tế WellSpring trực thuộc Công ty cổ phần Đầu tư và phát triển giáo dục SSG tại phường Bồ Đề, Quận Long Biên, Hà Nội, hoạt động từ năm học 2011-2012. Ngay năm học đầu tiên, ngày 15/8/2011, trường đã được vinh dự đón Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đánh trống khai giảng và chưa đầy một tháng sau, ngày 4/9/2011, tân Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đến thăm và làm việc khi ông vừa đắc cử.
Hãy thử điểm sơ qua khối tài sản khổng lồ của S.S.G mà phần lớn thuộc về bà Nguyễn Hồng Phương được ghi trên “vốn điều lệ” tại các 27 công ty con và các dự án đầu tư:



27 công ty con và một số dự án đầu tư của SSG. Đơn vị tính: Tỷ đồng

 Một số khoản đầu tư “khủng” khác: Hợp đồng ký với Cty TNHH 1TV PT KD Nhà: 173,6 tỷ; Công ty địa ốc Tân Bình: 62,42 tỷ; Dự án số 5 Lê Quý Đôn: 300,6 tỷ;… Chỉ mới thống kê sơ sơ tính trên vốn điều lệ các công ty và dự án (chưa tính tài sản riêng, tài sản người khác đứng tên giúp, tài sản đứng giúp người khác...) SSG của bà Nguyễn Hồng Phương đang sở hữu khối vốn công khai trên 3.400 tỷ đồng.
Thắm áo trắng và Phương áo đỏ đồng chủ trì lễ tế khởi công dự án Saigon Airport Plaza

Trên đây là những số liệu sưu tầm được, từ đó đặt ra một dấu câu hỏi vẫn chưa có lời giải: Từ 2 bàn tay trắng với một khoảng thời gian không dài khi khởi nghiệp từ một cửa hàng sao chép đĩa lậu, Nguyễn Hồng Phương đã bằng cách nào tạo ra một đế chế với khối tài sản kếch sù (về số lượng thì chưa bằng 40 công ty như Hà Văn Thắm, nhưng chất lượng, ít ra là về vốn thì hơn hẳn), trong đó phát sinh hàng loạt các nghi vấn liên quan đến việc thâu tóm thị trường bất động sản? Đánh chết cũng không tin không có bàn tay của ai đó phía sau! Câu hỏi này dành cho các cơ quan điều tra nhanh chóng vào cuộc xác minh, làm rõ.

Thứ Sáu, ngày 17 tháng 10 năm 2014

Sự kiện Thái Bình 1997



Sự kiện Thái Bình năm 1997 mặc dù được nghe “truyền miệng” nhiều nhưng lại ít thấy có cuốn sách nào, tờ báo chính thống nào nói một cách đầy đủ và hệ thống. Dù sao, nói đến Thái Bình 1997, người ta vẫn giữ thái độ dè dặt và thận trọng khi phát ngôn, bởi người ta vẫn nghĩ nó "nhạy cảm”. Sau khi dư luận lên tiếng về vụ Tiên lãng thì sự ám ảnh nặng nề mỗi lần nhắc đến Thái bình có giảm xuống.

Mới đây TỈNH ỦY-HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN-ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH chỉ đạo cho ra đời cuốnTỪ ĐIỂN THÁI BÌNH do NXB Văn hóa Thông tin xuất bản 2010.
Cuốn sách, theo lời giới thiệu của ông Bùi Tiến Dũng – Bí thư tỉnh ủy - Chủ tịch HĐND tỉnh giới thiệu, “gồm 5.000 mục từ với hơn 1.300 trang”, đáng được xem là một công trình từ điển bách khoa về Thái Bình.
Không ngại va chạm để nói đến những sự kiện lịch sử có tính bước ngoặt, lần đầu tiên một ấn phẩm, một công trình đồ sộ do Tỉnh Thái Bình xuất bản chính thức đưa Sự kiện Thái Bình  1997 vào  sách dưới những  đề mục nhỏ, như một  sự công nhận lịch sử mà không hề chối bỏ. 

Cuốn TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH là sách tra cứu và không  phải ai cũng có thể sở hữu vì số bản in không nhiều. Đối với sự kiện Thái Bình năm 1997, có 4 đề mục nhỏ  là: Vụ Quỳnh Hoa, Vụ Quỳnh Hội, Vụ Quỳnh Mỹ và Vụ Thái Thịnh.
Xin trân trọng giới thiệu lại toàn bộ 4 vụ này trong cuôn TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH để chúng ta cùng đọc và suy ngẫm.
1. Vụ Quỳnh Hoa
"Điểm nóng số 1 của tỉnh. Chiều ngày 16/6/1997, khoảng 300 người dân xã Quỳnh Hoa, huyện Quỳnh Phụ đã bắt giữ Bí thư Đảng ủy, chủ tịch UBND xã và Phó ban tài chính xã dong lên huyện, đi bộ trên quãng đường 7km dưới trời mưa không cho đội mũ nón, vừa đi vừa lăng mạ, chử bới, đánh đập. UBND huyện cứ người ra tiếp, trong cuộc đối thoại, yêu sách của dân tập trung vào việc đòi xử lý cán bộ xã tham nhũng, tiêu cực; huyện yêu cầu trả tự do cho cán bộ xã và hứa cử đoàn thanh tra về làm rõ, nếu cán bộ vi phạm sẽ xử lý. 
 Sau đó, tại xã Quỳnh Hoa vẫn tiếp tục tiếp diễn tình trạng lăng mạ, vây ép đòi cán bộ xã phải ký vào những văn bản do một số người thảo sẵn. Ngày 12/9/1997, 34 cán bộ xã Quỳnh Hoa gồm Đảng ủy, UBND, Công an, xã đội, các đoàn thể HTX nông nghiệp và 6/10 trưởng xóm mang 6 con dấu và đơn xin nghỉ việc lên trả cho huyện. Không khí ở địa phương rất căng thẳng, ngày nào cũng có hàng trăm người lên UBND xã chất vấn cán bộ. Ngày 12/11/1997, khoảng 400 người dân xã Quỳnh Hoa kéo lên UBND tỉnh khiếu tố, đòi gặp chủ tịch tỉnh.
Do không chấp nhận giải thích của lãnh đạo UBND tỉnh, một số người đã hành động quá khích, gây rối trật tự công cộng, lăng mạ chửi bới cán bộ trước cổng UBND tỉnh. Đoàn người tập trung ngời cổng trụ sở UBND tỉnh từ sáng tới chiều tôi thì nhiều người trèo qua cổng và hàng rào tràn vào UBND tỉnh, đập phá cửa kính, hò hét, chửi bới.
Trước tình hình đó, ngày 13/11 cơ quan bảo vệ pháp luật đã bắt một số người phạm pháp quả tang trong đoàn khiếu kiện tại thị xã và tại xã Quỳnh Hoa. Đối phó lại, ngay chiều tối hôm ấy, tại xã Quỳnh Hoa hàng nghìn người bao vây cản trở không cho công an thi hành nhiệm vụ, lùng sục bắt giữ 23 công an và 1 cán bộ Viện kiểm sát nhân dân tỉnh; cướp 1 máy bộ đàm ném xuống ao, phá hỏng 1 xe ô tô; đối xử tàn nhẫn thô bạo với những người bị bắt đồng thời tổ chức rào làng, đặt chướng ngại vật, huy động thanh thiếu niên sử dụng dao kiếm, côn gậy tuần tra canh gác, liê tục đánh kẻng, gõ mõ báo động, kiểm soát chặt chẽ “nội bất xuất, ngoại bất nhập” gây không khí căng thẳng.
Trong khi đó, hàng trăm người ở các xã Quỳnh Mỹ, Quỳnh Giao, Quỳnh Thọ, An Ấp, An Thái cũng kéo sang Quỳnh Hoa, càng làm cho tình hình thêm phức tạp.
Sau 2 ngày thuyết phục vận động, đến 16h ngày 16/11/1997, 20 cán bộ chiến sĩ công an mới được trả tự do (4 chiến sĩ đã tự giải thoát)
Hoạt động của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể xã Quỳnh Hoa hoàn toàn bị tê liệt, không kiểm soát được tình hình. Các đoàn công tác của tỉnh, huyện cũng phải rút khỏi Quỳnh Hoa. Sự kiện Quỳnh Hoa gây chấn động dư luận, thu hút sự quan tâm chú ý của cả nước.
Từ ngày 2 đến 4/7/1998, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình đã mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án “gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ, bắt giữ người trái pháp luật” xảy ra tại Quỳnh Hoa. Vụ án có 40 bị cáo, đông nhất từ trước đến nay ở Thái Bình, 28 bị cáo bị tạm giam, 12 bị cáo tại ngoại, một số bị cáo là thương binh, đối tượng chính sách.
Đào Văn Tá bị xử phạt 11 năm 6 tháng tù giam, Nguyễn Văn Hội 9 năm tù giam, Nguyễn Xuân Hùng 8 năm tù giam. Các bị cáo khác bị phạt tù từ 7 năm đến 18 tháng tù cho hưởng án treo. Đồng thời cơ quan cảnh sát điều tra Thái Bình cũng quyết định khởi tố vụ tham ô tài sản XHCN đối với Nguyễn Thanh Vận, Phan Văn Phền, Chủ nhiệm và nguyên chủ nhiệm  HTX nông nghiệp Quỳnh Hoa."
Trích: TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH. TỈNH ỦY-HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN-ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH. NXB VĂN HÓA THÔNG TIN. 2010. Trang 1082 – 1083.
2. Vụ Quỳnh Hội
“Sự kiện khởi đầu của tình hình mất ổn định  chính trị - xã hội ở Thái Bình. Trong 2 tháng  cuối 1996, hàng trăm người ở xã Quỳnh Hội huyện Quỳnh Phụ nhiều lần lên xã, huyện, tỉnh khiếu tố về việc UBND huyện Quỳnh Phụ không thực hiện quỹ đất 5% là trái với chủ trương của tỉnh; các khoản dân phải đóng góp quá lớn; cán bộ xã có hành vi tham nhũng, tiêu cực. Dân yêu cầu cấp trên thanh tra, xử lí cán bộ sai phạm.
Ngày 5/12/1996, UBND huyện Quỳnh Phụ thành lập đoàn thanh tra liên ngành, tiến hành thanh tra việc xây dựng cơ bản, ngân sách xã và kinh tế HTX Nông nghiệp. Kết quả thanh tra xây dựng cơ bản (trạm bơm, cải tạo mương máng, làm đường giao thông…) bước đầu phát hiện có dấu hiệu tham ô 90.600.000 đồng.
 Thanh tra kinh tế, tài chính xã, phát hiện chi sai nguyên tắc 48.275.000 đồng. Ngoài ra còn có nhiều biểu hiện tiêu cực trong việc mua thóc giống, vay tiền cá nhân sử dụng cho HTX với lãi suất cao…
19h30 ngày 26/12/1996, Chi nhánh điện Quỳnh Phụ ngừng cấp điện cho xã vì còn nợ chi nhánh 3.800.000 đồng. Hàng nghìn người trong xã kéo đến nhà chủ tịch UBD xã thắc mắc và một số người quá khích đã đập phá tài sản, làm thiệt hại khoảng 3.000.000 đồng.
Ngay sau khi sự việc xảy ra, dưới sự chỉ đạo của Lãnh đạo công an tỉnh, của Thường trực huyện ủy, UBND huyện Quỳnh Phụ, lực lượng công an và các ngành đã tập trung giải quyết nhằm ổn định tình hình.
Ngày 26/12/1996, Công an huyện Quỳnh Phụ đã khởi tố vụ án gây rối trật tự công cộng, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn Toán, Phạm Văn Quýnh, Nguyễn Tiến Mừng.

Ngày 14/1/1997, khởi tố điều tra vụ án tham ô, cố ý làm trái gây thiệt hại tài sản XHCN, khởi tố 3 bị can: Đặng Đình Thảo (Bí thư Đảng ủy xã, nguyên Chủ nhiệm HTX), Nguyễn Quốc Dũng (kế toán trưởng), Vũ Thị Tám (thủ quỹ HTX nông  nghiệp).”

Trích: TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH. TỈNH ỦY-HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN-ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH. NXB VĂN HÓA THÔNG TIN. 2010. Trang 1083.
3. Vụ Quỳnh Mỹ
Vu gây rối trật tự nghiêm trọng nhất. Ngày 6/5/1997, Phạm Hữu Hoành, Phạm Văn Tới và Nguyễn Văn Ty  tự nhận là đại diện cho nhân dân đứng ra in giấy mời, triệu tập Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã, Bí thư chi bộ, xóm trưởng, trưởng các ban ngành của xã về Hội trường UBND để họp bàn chống tham nhũng.
Tại đây Phạm Hữu Hoành công khai đả kích , phê phán chính quyền xã, kích động quần chúng kéo lên huyện, tỉnh yêu cầu xử lý những cán bộ mà họ cho là tham nhũng.
Xét hành vi của Phạm Hữu Hoành và Phạm Văn Tới có dấu hiệu về tội “lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước và xã hội”, ngày 8/5/1997, Công an huyện Quỳnh Phụ đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt Phạm Hữu Hoành và Phạm Văn Tới. Lập tức, từ ngày 9 đến 11/5/1997, hàng nghìn người xã Quỳnh Mỹ và các xã lân cận liên tiếp kéo lên huyện đòi thả người bị bắt.
Chiều 10/5, khoảng 3.000 người đã tràn vào Viện kiểm sát nhân dân huyện, một số người đã đập phá phòng làm việc và lăng mạ, súc phạm Viện trưởng; thu và xé tài liệu của Viện kiểm sát nhân dân.
Tình hình càng căng thẳng khi hàng trăm người của xã Quỳnh Hồng cùng số dân xã Quỳnh Mỹ kéo đến bao vây trụ sở công an huyện. Trong suốt 6 giờ đồng hồ (từ 19 giờ ngày 10/5 đến 1 giờ sáng ngày 11/5) khoảng 2.000 người tụ tập trước trụ sở công an huyện. Lợi dụng đêm tối, một số người quá khích hò hét, chửi bới, xô đổ cổng, dậu của Công an huyện và trường Đảng huyện; dùng gạch đá tấn công trụ sở và cán bộ chiến sĩ công an đang làm nhiệm vụ. Họ còn dùng các vật cản chắn đường ô tô, ngăn không cho lực lượng công an tỉnh và công an các huyện tăng cường; đồng thời tổ chức săn lùng, đánh đuổi các chiến sĩ công an. 11 cán bộ chiến sĩ công an bị thương, nhiều tài sản bị hư hỏng, trong đó có 3 xe chữa cháy, 1 xe cứu thương, 1 xe chở quân, vỡ nhiều lá chắn, hỏng toàn bộ cánh cửa nhà 2 tầng, hệ thống chiếu sáng và nhiều máy móc thông tin liên lạc..
Để giảm bớt áp lực của quần chúng, tạm ổn định tình hình, Thường trực Tỉnh ủy và UBND Tỉnh đã họp bàn thống nhất chủ trương tạm tha 2 đối tượng bị bắt. Được thể, một số người ở Quỳnh Mỹ đã ép Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện phải ký vào văn bản họ viết sẵn, thừa nhận việc bắt người là sai rồi công bố trên Đài truyền thanh xã Quỳnh Mỹ và tổ chức ăn mừng thắng lợi.
Trích: TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH. TỈNH ỦY-HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN-ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH. NXB VĂN HÓA THÔNG TIN. 2010. Trang 1083 - 1084.
4. Vụ Thái Thịnh
Vụ tham nhũng, tiêu cực và gây rối trật tự công cộng điển hình ở huyện Thái Thụy. 
Ngày 25/6/1997, 60 người dân xã Thái Thịnh lên UBND tỉnh kiến nghị giải quyết thanh quyết toán các công trình xây dựng của xã và tố cáo Chủ tịch xã vi phạm luật đất đai, tham nhũng. Buổi tối cùng ngày, quần chúng họp tại 2 địa điểm xóm 1 và xóm 5 để nghe thông báo kết quả đi khiếu kiện ở tỉnh về.
14h ngày 26/6/1997, trong lúc Đảng bộ xã đang họp bàn chủ trương thực hiện công văn số 279 của UBND tỉnh, hơn 200 người kéo đến bao vây trụ sở, yêu cầu xã phải thực hiện ngay công văn số 279. Chủ tịch xã ra giải quyết yêu cầu mọi người giải tán. Quần chúng không  nghe và có lời lẽ thô tục, lăng mạ.
5h chiều cùng ngày, Chủ tịch huyện cùng đoàn cán bộ huyện Thái Thụy về xã  Thái Thịnh để giải quyểt, hứa sẽ chỉ đạo xã thực hiện nghiêm túc công văn 279 của UBND tỉnh. Có tới hàng nghìn quần chúng tụ tập tại trụ sở UBND xã. Những người quá khích đã ào lên vây giữ Chủ tịch huyện và đoàn cán bộ. Lực lượng công an tìm cách đưa được Chủ tịch huyện ra ngoài. Chủ tịch xã  và Trưởng công an huyện bị một số phần tử xấu hành hung trọng  thương. 6 cán bộ khác của xã, trong đó có Bí thư Đảng ủy và 3 an ninh viên bị xâm phạm đến thân thể. Toàn bộ bàn ghế, cánh cửa, tủ đựng tài liệu, tăng âm, loa đài của xã và HTX bị đập phá và mất 13,600,000 đồng quỹ UBND xã.
Sau đó, họ kéo đập phá nhà, tài sản gia đình Phạm Văn Chiêm (Chủ tịch xã), Phạm Văn Nghị (Phó Chủ tịch xã), Đinh Thị Tâng (Cán bộ địa chính xã), gây nhiều thiệt hại. 
Tình hình rối loạn diễn ra từ 7 giờ tối ngày 26/6 đến 1 giờ sáng ngày 27/6/1997.
Để giải quyết ổn thỏa tình hình xã Thái Thịnh, Thường trực Tỉnh ủy Thái Bình đã chỉ đạo 3 ngành Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án tiến hành đồng thời việc điều tra truy tố những đối tượng quá khích, gây rối trật tự công cộng, vi phạm pháp luật với việc truy tố những cán bộ xã có hành vi tham nhũng, tiêu cực là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc khiếu kiện phức tạp của quần chúng.
Ngày 3/7/1997, Công an tỉnh đã thực hiện lệnh bắt 5 đối tượng chủ yếu (Vũ Văn Kiện, Vũ Văn Tuấn, Phạm Văn Vịnh, Ngô Thị Duyên, Phạm Văn Khuynh) trong 36 đối tượng gây rối trật tự công cộng, cố ý hủy hoại tài sản XHCN, tài sản công dân, cố ý gây thương tích, xảy ra đêm 26/6/1997 tại Thái Thịnh.
Đồng thời, Công an tỉnh khẩn trương điều tra, xác định Phạm Văn Chiêm (Chủ tịch xã từ 1991 – 1997) đã cấp trái phép 23.686m2 đất và đã cùng Phạm Văn Thiện (Phó ban tài chính xã) vi phạm các quy định về chế độ, nguyên tắc quản lí kinh tế nhà nước, gây thất thoát ngân sách xã hơn 220 triệu đồng. Chiêm tham ô 24.670.000 đồng, Thiện tham ô 63.804 ngàn đồng.
Một số cán bộ  chủ chốt khác của xã như Phạm Thanh Nghị (Phó chủ tịch xã) , Phạm Văn Thái  (Bí thư Đảng ủy xã), Phạm Huy Khản (Phó Bí thư Đảng ủy xã), Phạm Thị Duyên (Thủ quỹ UBND xã) đồng phạm gây thất thoát 154 triệu đồng ngân sách xã. Ngoài ra, Nghị còn tham ô 13 triệu đồng, Thái 11 triệu đồng, Khản hơn 2 triệu đồng, Duyên 5 triệu đồng, Tăng hơn 13 triệu đồng.
Trích: TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH. TỈNH ỦY-HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN-ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH. NXB VĂN HÓA THÔNG TIN. 2010. Trang 1084 - 1085.

Thứ Ba, ngày 07 tháng 10 năm 2014

Hai vụ xử oan chết người ở Bác giang, nghĩ về bọn trên cả luật ở đất nước này.


Nghĩ mãi việc khởi tố thẩm phán xử ông Chấn sai phạm ở đâu. Thằng công an trình ra chứng cứ chặt chẽ không thể bắt bẻ được, thằng cha Viện cứ khăng khăng buộc tội. Mấy lần xừ đi xử lại vẫn thế. Tôi nói thật ông thẩm phán tài giời mới trả lại được hồ sơ và dừng phiên toà.
Nói thế để thấy cội nguồn của tội ác là từ khâu đầu tiên : VIỆC BẮT NGƯỜI CỦA CÔNG AN.
Ủng hộ triệt để cho công an là thằng KIỂM SÁT ( các bạn nhớ cho là thằng Kiểm sát nó ‘’kiểm’’ từ lúc bắt ( phê chuẩn lệnh bắt ) đến buộc tội tại phiên toà ( đồng thời kiểm sát cả phiên toà ). Tài thánh ông thẩm phán dám tha cho ông Chấn.
Nay tôi tóm tắt một vụ nữa cũng ở Bắc giang, cũng thời điểm ấy, cả cái bọn luật pháp ở tỉnh này mê lú đến cỡ nào !
Theo hồ sơ vụ án, khoảng 19 giờ ngày 26.6.2005 vợ chồng anh Sơn, chị Liễu ở xã Phúc Sơn (huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang) đi làm đồng về phát hiện con gái mình là cháu Nguyễn Thị Yến (5 tuổi) mất tích. Đến sáng hôm sau thì phát hiện xác cháu bé ngoài đồng, khám nghiệm hiện trường và tử thi cho thấy nạn nhân bị hiếp dâm rồi bị giết.
Sau khoảng 4 tháng không tìm ra manh mối thủ phạm, cơ quan điều tra tỉnh Bắc Giang đã ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án và phát động nhân dân tố giác tội phạm. Sau đó cơ quan điều tra nhận được đơn tố cáo của bà Ngô Thị Khuyến (SN 1930) và con gái là Trương Thị Năm (SN 1960) đều tố cáo bị Hàn Đức Long ở cùng thôn hiếp dâm.
Sau khi bị bắt giữ, Hàn Đức Long đã thú nhận việc hiếp dâm hai mẹ con bà Khuyến. Không những vậy cơ quan điều tra còn xác định Hàn Đức Long là thủ phạm hiếp giết cháu bé Yến.
Năm 2007, TAND tỉnh Bắc Giang đưa Hàn Đức Long ra xét xử sơ thẩm, tại phiên tòa bị cáo kêu oan và cho rằng bị ép cung nhục hình. Mặc dù vậy Hàn Đức Long vẫn bị cho là có tội và bị tuyên án tử hình. Sau đó TAND Tối cao xét xử phúc thẩm cũng tuyên y án tử hình.
Lần kháng nghị thứ nhất cách đây đã hơn 5 năm, tháng 7/2009 thì Hội đồng Giám đốc thẩm đã có quyết định hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 504/2007/HSPT ngày 25/6/2007 của Tòa Phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội và Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2007/HSST ngày 31/1/2007 của TAND tỉnh Bắc Giang
Đến năm 2011 TAND tỉnh Bắc Giang xử sơ thẩm lần hai vụ án Hàn Đức Long, bị cáo vẫn bị tuyên án tử hình. Đến phiên phúc thẩm TAND Tối cao xử cũng tuyên án tử hình.
Bản Kháng nghị giám đốc thẩm số 29 được ký ngày 9/5/2014 có nội dung kháng nghị hủy án phúc thẩm và sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng về tố tụng và nội dung, ảnh hưởng trực tiếp đến việc kết án Hàn Đức Long.
Đây là lần thứ hai bản án tử đối với Hàn Đức Long bị Chánh án TANDTC kháng nghị, đề nghị hủy án khi mà bị án này đang chờ thi hành án.
Vụ án của Hàn Đức Long có sự trùng hợp với vụ án oan ông Nguyễn Thanh Chấn ở chỗ, cả hai đều có “đơn tự thú” sau khi bị triệu tập lên cơ quan điều tra, đều kêu oan và tố cáo các Điều tra viên đã đánh đập, ép phải nhận tội. Ngoài ra, Kiểm sát viên của cả hai vụ án này đều là ông Đặng Thế Vinh (VKSND tỉnh Bắc Giang). Mới đây, ông Đặng Thế Vinh đã bị Cơ quan điều tra VKSNDTC khởi tố, bắt tạm giam về hành vi “Làm sai lệch hồ sơ vụ án” trong vụ án oan của ông Nguyễn Thanh Chấn. Hãy chờ xem thêm ở vụ ông Hàn Đức Long.
Ảnh ông Hàn Đức Long tại phiên toà. Ảnh ghép ông Long và ông Chấn.

Thứ Bảy, ngày 04 tháng 10 năm 2014

Thư Chất Vấn và Kiến Nghị Gởi Hội Nghị Trung Ương 13 - Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Khoá 9

Thư Chất Vấn và Kiến Nghị Gởi Hội Nghị Trung Ương 13 - Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Khoá 9
Nguyễn Văn Thi
Ngày 23 tháng 09 năm 2005
Kính gửi:
• Tổng Bí thư và Bộ Chính trị
• Ủy ban Kiểm tra Trung ương
• Ban chấp hành Trung ương khoá 9
Đồng kính gửi:
• Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh
• Đại tướng Võ Nguyên Giáp
• Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu
• Đồng chí Nguyễn Đức Tâm, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Trưởng ban Tổ chức Trung ương.
• Đồng chí Phan Minh Tánh (tức Chín Đào), nguyên Trung ương Ủy viên, nguyên Phó Bí thư Thành ủy sau 1975
• Đồng chí Mười Hương, nguyên Thường vụ Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn.
Căn cứ Điều lệ Đảng hiện hành về quyền của Đảng viên tại Điều 3 mục 3 và thể theo di nguyện của hai đồng chí trên 60 tuổi Đảng vừa quá cố là Phạm Văn Xô và Đồng Văn Cống, tôi Nguyễn Văn Thi (Năm Thi) sinh năm 1920, nguyên Ủy viên Ban cán sự Đảng, Ủy viên Tỉnh ủy, Ủy viên thường trực Tỉnh ủy Thủ Dầu Một (nay là tỉnh Bình Dương - Bình Phước) từ năm 1942 đến 1946, Chi đội trưởng Chi đội 1, Liên trung đoàn 301 - 310, Tư lệnh đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn 1950, Bí thư Đảng bộ nhà tù Côn Đảo 1953, thời chống Pháp; Chủ nhiệm Hậu cần Bộ Chỉ huy miền thời chống Mỹ, nghỉ hưu tại Thành phố Hồ Chí Minh, viết thư chất vấn kiến nghị này gởi Ban chấp hành Trung ương tại Hội nghị Trung ương 13, nội dung sau:
Những vụ việc chính trị nghiêm trọng xẩy ra trong 20 năm qua từ vụ Xiêm Riệp 1983, Sáu Sứ 1991, vụ nâng Cục 2 lên thành Tổng cục 2 với quyền hạn siêu Đảng siêu Nhà nước, được hợp pháp hoá bằng Pháp lệnh tình báo của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Nghị định 96 của Chính phủ, vụ T4 (1997-1999) đến vụ vận động thay đổi, nói xấu, vu khống, lật đổ Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu trước Đại hội 9 đều do bàn tay của nguyên cố vấn Lê Đức Anh.
Tôi đã có thư gởi Trung ương Đảng 3 lần để báo cáo sự thật về Lê Đức Anh.
- Lần thứ nhất, trước Đại hội 6 ngày 02/08/1986 tôi có thư gởi cho đồng chí Lê Đức Thọ, Nguyễn Đức Tâm để nói rõ “Tháng 02/1945 mới tổ chức Mặt trận Việt Minh trong công nhân cao su. Ngày vào Đảng (của Lê Đức Anh) do Đảng bộ Thủ Dầu Một có thể là đúng. còn trước 1945 tôi (Năm Thi) chưa thấy rõ, vì không có sự giới thiệu nào là một đồng chí Đảng viên nằm vùng”.
- Lần thứ hai, trước Hội nghị Trung ương 12 khoá 9 ngày 03/02/2005 tôi cùng đồng chí Phạm Văn Xô và đồng chí Đồng Văn Cống có thư gởi Ban Chấp hành Trung ương để báo cáo về 6 vấn đề của Lê Đức Anh mà ba chúng tôi hiểu biết rất rõ là:
  1. Lê Đức Anh không phải là công nhân cao su.
  2. Lê Đức Anh không phải là Đảng viên từ năm 1938.
  3. Lê Đức Anh đã hai lần để sổng Toàn quyền Decoux, Thống đóc nam Kỳ Hoffen và chủ đồn điền De Lalant, sĩ quan Phòng nhì của Pháp.
  4. Lê Đức Anh đã bỏ chạy không tổ chức cho lực lượng võ trang đánh trả quân Pháp tập kích vào Thuận Lợi, đã phá huỷ một khối lượng lớn cơ sở vật chất dự trữ của miền Đông thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ.
  5. Lê Đức Anh đã phạm nhiều sai lầm từ 1979 đến 1989 khi lãnh đạo và chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu và giúp bạn ở Cămpuchia.
  6. Lê Đức Anh là người chồng phản bội ra Bắc được mấy năm nhờ Lê Đức Thọ ủng hộ bỏ vợ cũ trong Nam lấy vợ mới ngoài Bắc; còn cho chị Bảy Anh là phản động theo giặc, nhưng thực tế chị vẫn là một Tỉnh ủy viên đang công tác. Nay nghỉ hưu ở tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Lần thứ ba, ngày 11/04/2005 tôi thay mặt hai đồng chí Phạm Văn Xô và Đồng Văn Cống đã có thư thứ 3 gởi Ban Chấp hành Trung ương (Ban chấp hành Trung ương) Khoá 9 nhắc lại nội dung thư ngày 03/02/2005 và yêu cầu trả lời.
Ngày 23/05/2005 Ủy ban Kiểm tra Trung ương có văn bản số 2935/CV/KTTW gởi ba chúng tôi cho biết đã nhận được thư phản ảnh về lý lịch chính trị Lê Đức Anh và đã chuyển Ban bảo vệ Chính trị nội bộ Trung ương xem xét báo cáo Bộ Chính trị. Sau Hội nghị Trung ương 12 Ban Tổ chức Trung ương có quyết định do đồng chí Trần Đình Hoan ký cử đoàn cán bộ vào làm việc với ba chúng tôi do đồng chí Phạm Văn Thọ công bố quyết định và giới thiệu đoàn do đồng chí Phạm Văn Đồng - Chánh văn phòng Ban bảo vệ Chính trị nội bộ Trung ương làm trưởng đoàn và một số thành viên khác, tại 87 Trần Quốc Thảo - Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh. Đoàn đã gặp hai đồng chí Phạm Văn Xô và Đồng Văn Cống nhưng vì đang bệnh nặng không làm việc được đã yêu cầu đoàn làm việc với tôi (Năm Thi). Tiếp theo đoàn đã hai lần làm việc tại nhà riêng của tôi. Cả ba lần làm việc với đoàn, tôi đều có ký vào biên bản và đoàn hứa sẽ giao lại biên bản cho tôi để công bố cho hai đồng chí Phạm Văn Xô và Đồng Văn Cống được rõ. Nhưng đoàn vẫn không trả lại biên bản cho đến khi hai đồng chí Phạm Văn Xô và Đồng Văn Cống qua đời vẫn không rõ các nội dung biên bản đó. Ngày 15/09/2005 đoàn quay lại gặp tôi lần thứ tư cũng không cung cấp biên bản đã làm việc như lời hứa.
Trước đó Lê Đức Anh cùng thư ký Khuất Biên Hoà vào bệnh viện Thống Nhất thăm đồng chí Phạm Văn Xô. Lê Đức Anh hỏi đồng chí Xô: “Nghe nói anh có thư gởi Trung ương Đảng phải không?” đồng chí Phạm Văn Xô trả lời “Đúng, đây là vấn đề lịch sử của Đảng”. Thế mà Khuất Biên Hoà đã lược ghi cuộc gặp này trên báo Hà Nội Mới số ra ngày 14/07/2005 không đưa ra ý kiến này. Có lẽ đó cũng là lịch sử chính trị Lê Đức Anh!
Qua ba lần đoàn cán bộ của Ban Tổ chức Trung ương vào làm việc với tôi đều không nhằm làm sáng rõ nội dung thư 03/02/2005 của ba chúng tôi về lịch sử chính trị Lê Đức Anh. Cách làm việc của đoàn đã nhiều lần thể hiện tính chất xét hỏi, điều tra, thậm chí có cả lời lẽ rúng ép, dọa dẫm đối với tôi, một Đảng viên đã 65 tuổi Đảng, người đã nắm vững lịch sử chính trị Lê Đức Anh từ trước 1945 cho đến khi là Chủ tịch nước, là Cố vấn Trung ương Đảng. Đoàn này làm việc với tôi đầy dụng ý nhằm bảo vệ Lê Đức Anh, chứ không phải tìm hiểu thêm chứng cứ về 6 vấn đề của Lê Đức Anh mà chúng tôi đã đưa ra để giải quyết làm sáng tỏ nhằm bảo vệ uy tín của Đảng.
Nay vì đã ký các biên bản làm việc với đoàn cán bộ của Ban Tổ chức Trung ương nhưng đoàn không giữ lời hứa gởi lại biên bản, thực hiện di nguyện của hai đồng chí Xô và Cống đã qua đời, tôi hoàn toàn không chịu trách nhiệm về nội dung các biên bản đó. Tôi bác bỏ các biên bản đó vì đã hơn 3 tháng đoàn vẫn không gởi biên bản có chữ kỹ của Ban Tổ chức Trung ương cho tôi. Đã có tài liệu đưa ra hai bản lý lịch tự khai của Lê Đức Anh. Bản thứ nhất trước Đại hội 4 tháng 11/1976 Lê Đức Anh khai: “Thành phần gia đình trung nông - Bản thân viên chức - Tham gia cách mạng 1937. Vào Đảng 07/1945 - Chính thức 08/1945”. Bản thứ hai 04/1986 để bước vào Đại hội 6 Lê Đức Anh khai: “Thành phần gia đình trung nông - Bản thân công nhân - Ngày và nơi tham gia cách mạng 1937 - Ngày nhập ngũ 08/1945 - Ngày vào Đảng 30/05/1938 - Ngày chính thức 02/08/1938”. Trong bản tóm tắt lý lịch tự khai thứ nhất 11/1976, Lê Đức Anh ghi rõ: “Chưa sinh hoạt Chi bộ”. Như vậy rõ ràng cả hai lần tự khai lý lịch để vào Đại hội 4 và 6, Lê Đức Anh đều khai “tiền hậu bất nhất”, đều thừa nhận là chưa sinh hoạt Chi bộ, thì làm gì có kết nạp, có công nhận chính thức là Đảng viên?
Dựa trên sự hiểu biết rõ ràng về lịch sử chính trị Lê Đức Anh từ 02/1945 tôi và hai đồng chí Phạm Văn Xô và Đồng Văn Cống đã nói rõ trên thư ngày 03/02/2005 về 6 vấn đề của Lê Đức Anh, nay xin kiến nghị đến Ban chấp hành Trung ương khoá 9 tại Hội nghị Trung ương 13 như sau:
1. Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá 9 có trách nhiệm bằng tài liệu lưu trữ về lịch sử chính trị của Lê Đức Anh và bằng thư của ba chúng tôi là nhân chứng lịch sử chính trị Lê Đức Anh là đầy đủ cơ sở vật chứng và nhân chứng để xử lý Lê Đức Anh theo Điều lệ Đảng hiện hành. Điều 36 mục 3 Điều lệ Đảng hiện hành đã quy định: “Ban chấp hành Trung ương quyết định các hình thức kỷ luật Đảng viên, kể cả Ủy viên Ban chấp hành Trung ương, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị”. Với Lê Đức Anh dù đã là nguyên Ủy viên Ban chấp hành Trung ương, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước, có quân hàm Đại tướng nay chỉ là một Đảng viên hưu trí mà lý lịch tự khai lần đầu bất nhất và chưa sinh hoạt Chi bộ, đã kết luận là man khai lý lịch thì hình thức kỷ luật là không công nhận là Đảng viên, không cần và không thể áp dụng Điều 39 về 9 bước xử lý kỷ luật Đảng viên như điều lệ hiện hành được. Nếu trong Ban chấp hành Trung ương khoá 9 có đồng chí Ủy viên Trung ương nào là nhân chứng nơi kết nạp, nơi công nhận chính thức là Đảng viên của Lê Đức Anh hãy lên tiếng để Ban chấp hành Trung ương khoá 9 công bố công khai minh chứng cho Lê Đức Anh.
2. Lý lịch Lê Đức Anh tự khai như nói ở trên, cơ sở nào để xác định tuổi Đảng của Lê Đức Anh là 60 tuổi? Cơ quan nào đã đề nghị công nhận và ai đã ký quyết định công nhận Lê Đức Anh là 60 tuổi Đảng chắc Ban Tổ chức Trung ương khoá 9 còn lưu trữ đầy đủ hãy lấy ra công khai tại Hội nghị Trung ương 13 để Ban chấp hành Trung ương khoá 9 xử lý trách nhiệm cho dù người đó đã nghỉ hưu?
3. Hội nghị Trung ương 13 của Ban chấp hành Trung ương khoá 9 cần công khai nội dung các biên bản của Đoàn cán bộ Ban tổ chức Trung ương đã làm việc với tôi để thấy rõ quan điểm trước sau như một, từ 1945 hay từ 1986 đến nay tôi đều nhất quán đánh giá lịch sử chính trị Lê Đức Anh chỉ là một Đảng viên tự khai nên chưa sinh hoạt Chi bộ nào, là người xuất thân từ một tên cai đồn điền, đã phạm nhiều tội lỗi trong thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp và phạm nhiều sai lầm 10 năm ở Campuchia. Nếu Ban chấp hành Trung ương khoá 9 không công khai và cung cấp các biên bản của đoàn cán bộ Ban tổ chức Trung ương đã làm việc với tôi càng chứng tỏ dư luận trong Đảng hiện nay về thế lực của Lê Đức Anh và Đỗ Mười đã và đang làm cho nội tình Trung ương Đảng bị phân hoá, uy tín của Ban chấp hành Trung ương giảm sút đối với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân.
4. Nếu các vụ chính trị nghiêm trọng mà các khoá trước đã bàn giao lại cho khoá 9 và khoá 9 đã mấy kỳ Hội nghị Trung ương của Ban chấp hành Trung ương đều khoanh lại, tôi kiến nghị Ban chấp hành Trung ương khoá 9 tại Hội nghị Trung ương 13 không được khoanh lại mà phải giải quyết dứt điểm trước Đại hội 10, không được bàn giao lại Đại hội 10 được nữa! Đồng thời Hội nghị Trung ương 13 cũng cần vạch rõ lý do vì sao các kỳ Hội nghị Trung ương trước cứ khoanh lại, để xem xét tư cách một số Ủy viên Bộ Chính trị mà dư luận cho là phe cánh của Lê Đức Anh, Đỗ Mười phải không?
Kết luận: Dù chúng tôi đã ba người ký tên gởi thư ngày 03/02/2005 đến Ban chấp hành Trung ương khoá 9 nay hai người đã qua đời, tôi (Năm Thi) dù đã ngoài 65 tuổi Đảng, đã 86 tuổi đời luôn sát cánh cùng nhiều đồng chí đã đấu tranh từ mặt trận Việt Minh, trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ ở Nam bộ, hễ tim còn đập còn tiếp tục đấu tranh bảo vệ Đảng bảo vệ chế độ.
Trải qua hai cuộc kháng chiến, 30 năm đã hơn 3 triệu người hy sinh trong đó rất nhiều Đảng viên Cộng sản Việt Nam để giành độc lập thống nhất đất nước, không thể và không cho phép một thế lực nào tìm cách ngăn cản mọi tố cáo vạch trần của tôi về lịch sử chính trị Lê Đức Anh đã chui sâu leo cao, gây ra bao vụ việc chính trị nghiêm trọng, gây bè phái trong lãnh đạo Trung ương Đảng và quân đội, chống lại người chân chính như tôi và nhiều đồng chí khác.
Ban chấp hành Trung ương khoá 9 không giải quyết dứt điểm các vụ chính trị nghiêm trọng và lý lịch chính trị Lê Đức Anh - Đỗ Mười là có tội với bao nhiêu người đã hy sinh vì sự nghiệp của Đảng 75 năm qua, là có tội với lịch sử vẻ vang của Đảng đã để trong Đảng tồn tại những Trung ương Ủy viên như Lê Đức Anh - Đỗ Mười. Khoá 9 không xử lý dứt điểm thì lịch sử dù 10 năm, 20 năm nữa sẽ phán xét Ban chấp hành Trung ương khoá 9 là thiếu trách nhiệm, là không cương quyết giải quyết dứt điểm để làm mất lòng tin của cán bộ Đảng viên trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Trên đây là toàn bộ nội dung thư chất vấn và kiến nghị của tôi xin gởi đến đồng chí Tổng Bí thư - Bộ Chính trị và Ban chấp hành Trung ương khoá 9 tại Hội nghị Trung ương 13 để xem xét giải quyết và trả lời. Đồng gởi đến các đồng chí lão thành cách mạng để thấy rõ tâm nguyện đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ của tôi và các đồng chí ở Nam Bộ.
Chúc Hội nghị Trung ương 13 của Ban chấp hành Trung ương Khoá 9 thành công tốt đẹp.
Trân trọng kính chào.

Thứ Tư, ngày 01 tháng 10 năm 2014

Thư của ông Nguyễn Đức Tâm Nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng.



Kính gửi:
- Bộ chính trị
- Ban chấp hành trung ương Đảng

1- Chúng tôi một số cách mạng lão thành chiều 24/01/2001 đã được đồng chí Phạm Thế Duyệt do Bộ Chính trị phân công gặp. Những người đã có thư phát biểu với Bộ Chính trị, với Trung ương xung quanh việc chuẩn bị Đại hội IX của Đảng.
Tôi đã phát biểu ý kiến trong cuộc gặp mặt đó, nay tôi xin nói cụ thể và phân tích kỹ hơn về hoạt động của các đồng chí Cố vấn.
Tôi phải viết rõ vấn đề này vì trước hết là sự đoàn kết trong toàn Đảng và cũng là vì sự nghiệp của Đảng, sự tồn vong của đất nước nếu những hoạt động đó không bị chặn đứng ngay lại.
Tôi rất vốn quý trọng các đồng chí Cố vấn và quá trình hoạt động cách mạng, vì sự đóng góp cho cách mạng các đồng chí đã được Đảng và Nhà nước ghi công bằng tấm huân chương sao vàng. Nhưng các hoạt động gần đây của các đồng chí đó chính là đồng chí Đỗ Mười và đồng chí Lê Đức Anh xung quanh vấn đề nhân sự của Đại hội IX đã làm tôi suy nghĩ rất nhiều, nên tôi không thể không phát biểu ý kiến đấu tranh với những hoạt động mà tôi cho là vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức của Đảng, là lộng quyền, là đặt mình lên trên Đảng.
Ở đây, tôi chỉ nêu những vấn đề mà tôi trực tiếp chứng kiến, chứ không nêu những vấn đề tôi mới nghe nói lại như việc họp một số cán bộ lão thành ở thành phố Hồ Chí Minh, gọi dây nói cho một số cán bộ để vận động, việc Quân uỷ Trung ương họp để xem xét kỷ luật những đồng chí có liên quan đến việc Lý Tống lái máy bay rải truyền đơn khu vực thành phố Hồ Chí Minh ... (Những vấn đề này đã có mấy đồng chí phát biểu trong cuộc gặp mặt của đồng chí Phạm Thế Duyệt nói ở trên). Dưới đây là một số việc cụ thể:
2- Sau khi tôi đề nghị với Bộ chính trị cho triệu tập chúng tôi ít ra là những đồng chí nguyên Uỷ viên Bộ chính trị để chúng tôi phản ánh một số tình hình, phổ biến cho chúng tôi về hướng chuẩn bị nhân sự để khi có anh em đến chơi hỏi chúng tôi thì chúng tôi có thể giải thích theo hướng chung của Bộ Chính trị, phản ánh với Bộ Chính trị tình hình chúng tôi nghe, và chúng tôi cũng có thể góp ý kiến riêng của mình về nhân sự Đại hội. Đề nghị này nhờ đồng chí Phạm Thế Duyệt chuyển đến Bộ Chính trị. Đồng chí Duyệt hứa sáng hôm sau họp sẽ báo cáo với Bộ Chính trị. Đến trưa hôm sau, đồng chí Đỗ Mười gọi dây nói cho tôi báo là tối nay 13/01/2001 tôi sẽ đến nhà anh để thông báo một số tình hình. Nhưng tôi nói: 13h 30’ hôm nay tôi phải đi Thái Bình, hôm nào về tôi sẽ báo lại anh. Rồi anh Mười bận vì đi vào Nam, sau Tết ra mãi tới 06/02/2001 mới gặp tôi được.
Khi gặp tôi, anh Mười hỏi ngay: Anh Lê Đức Anh cho người thông báo với anh, anh có ý kiến gì? (tôi nghĩ ngay là hai người đã bàn bạc với nhau và phân công nhau đi thông báo). Tôi trả lời là nghe qua thư như thế, còn phải tìm hiểu thêm rồi mới có ý kiến được. Anh Mười nói ngay: Rõ ràng rồi, còn phải tìm hiểu gì? Có gì không rõ sao không hỏi mình. Thế rồi anh phân tích, phê phán những sai trái về quyết định thành lập A10.
Sau đó anh đưa cho tôi một bản dài 7-8 trang, bảo tôi xem đi rồi sẽ nói chuyện. Bản này có những báo cáo về hoạt động và nhận xét về 3 người: Đặng Thị Thu Hà, Vũ Thị Dung và người nữa tôi không nhớ tên, với ý chính là: Thu Hà bám rất chặt đồng chí Lê Khả Phiêu, mà Thu Hà lại quan hệ chặt chẽ với Thị Dung và người thứ ba nữa (hai người này là tình báo của Đức, một là tình báo của ....)
Ghi chú: Bản báo cáo này không đề ngày tháng, không nguồn những tin đã được cung cấp. Cũng chẳng nói là do ai gửi và gửi cho ai? Tôi nghĩ: tài liệu này vô giá trị.
Tiếp đó anh Mười đưa cho tôi xem một số ảnh, cũng nói là ảnh thu thập được từ nước ngoài và báo chí nước ngoài.
Rồi anh Mười lại hỏi: Anh làm về tổ chức, theo anh thì giải quyết thế nào?
Tôi nói: Theo tôi căn cứ tình hình các mặt trong nước và nước ngoài, kẻ địch đang tìm cách phá hoại ta, ở biên giới thì Gia Lai, Đắc Lắc vừa có bạo loạn, cho nên ta rất cần phải ổn định chính trị xã hội. Nếu thay đổi đến 50% số Uỷ viên Bộ Chính trị nhất là thay đổi 3 đồng chí chủ chốt và đồng chí Nông Đức Mạnh cũng phải chuyển vị trí công tác thì phức tạp quá. Anh Mười suy nghĩ một chút rồi nói có thể để Phan Văn Khải một vài năm nhưng cũng phải có nghị quyết. Khải chỉ được làm đến thời gian đó để chuẩn bị người thay rồi phải nghỉ. Còn Lê Khả Phiêu phải xét kỷ luật trước Đại hội.
(Tôi nghĩ: Tại sao lại có cách giải quyết như thế này? Phải chăng đó là ý đồ lật đổ đồng chí Tổng Bí thư.)
3- Về đồng chí Lê Đức Anh thì khoảng 16-17/01/2001 có cho đồng chí Son, thư ký riêng của anh đến gặp tôi để thông báo về quyết định thành lập A10 và nói đây là vi phạm nguyên tắc Đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước và thông báo cho tôi về báo cáo của anh Lê Đức Anh với Bộ Chính trị về 6 hay 7 điều gì đó sai lầm của đồng chí Lê Khả Phiêu. Đồng chí Son cũng nói: “Hôm qua tôi đã báo cáo với anh Tố Hữu, anh Tố Hữu cũng cho đây là vi phạm nguyên tắc rất nghiêm trọng phải xử lý”. Sau đó một vài ngày, đồng chí Đồng Sĩ Nguyên gọi dây nói hỏi tôi: “Tôi vừa nghe thư ký của anh Lê Đức Anh đến báo cáo anh có biết không?” Rồi anh Nguyễn Thanh Bình cũng gọi dây nói hỏi tôi như vậy... anh Chu Huy Mân cũng nói vậy ...
4- Tôi thấy đây là cuộc vận động có chuẩn bị khá kỹ. Có phân công rõ ràng, với ý đồ không trong sáng trước thềm Đại hội IX, là vi phạm nguyên tắc tổ chức của Đảng, vi phạm điều lệ Đảng, vi phạm thông báo số 554 ngày 29/11/2000 của Bộ chính trị vì:
- Đã tổ chức cuộc vận động của cá nhân mấy người nhằm loại trừ một số cán bộ lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ra khỏi cương vị của họ.
- Nội dung cuộc vận động là đả kích nhằm buộc đồng chí Tổng Bí thư phải từ chức, thậm chí phải bị kỷ luật trước khi Đại hội họp, trong khi đó Bộ Chính trị, Trung ương Đảng chưa có nhận xét kết luận gì về đồng chí Tổng Bí thư.
Qua những hoạt động trên đây của các đồng chí Cố vấn, tôi rất suy nghĩ, nhiều đêm không ngủ được vì sự mất đoàn kết trong Đảng chưa từng xảy ra như thế này. Rồi một loạt câu hỏi đặt ra:
- Vì sao Cố vấn lại vi phạm đến mức này? Không phải các đồng chí đó không hiểu nguyên tắc đâu, các đồng chí ấy buộc người khác về nguyên tắc thì rất chặt chẽ. Có phải các đồng chí Cố vấn tự cho mình cái quyền cao hơn Bộ Chính trị, cao hơn Trung ương nên coi thường điều lệ không ? Hay vì quyền lợi cá nhân nào đó? Hay vì muốn đưa những người “thân tín”, “tin cậy” của mình vào để dễ bề sai khiến, để theo cái gậy chỉ huy của mình không? Hay còn vì lý do sâu xa nào khác nữa? Tôi không thể giải đáp nổi xin đề nghị:
A- Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương kiểm điểm các đồng chí Cố vấn và quyết định đình chỉ ngay lập tức những hoạt động bè phái đó lại, nếu không, chậm ngày nào sẽ gây ra tác hại càng lớn cho Đảng trong khi kẻ thù trong và ngoài đang lợi dụng mọi cơ hội để phá hoại Đảng ta, Nhà nước ta. Trong khi Đảng ta đang lãnh đạo toàn Đảng toàn dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đang ngày càng có tín nhiệm lớn trong nhân dân. Bạn bè Quốc tế đang tin tưởng ở Đảng và Nhà nước ta.
Sau đó cần nghiên cứu, thu thập đầy đủ tài liệu hơn, phân tích kỹ nguyên nhân trước mắt và sâu xa hơn để có thái độ xử lý vấn đề thật thỏa đáng.
Tôi phát biểu ý kiến đây không phải cường điệu hoá vấn đề đâu, nếu không giải quyết kịp thời thì sẽ gây ra tai hại trước mắt và hậu quả không lường cho lâu dài không xa.
Tôi tin tưởng ở sự sáng suốt vững vàng của tập thể Bộ Chính trị và Ban chấp hành Trung ương Đảng.
5- Nhân đây tôi cũng xin báo cáo với Bộ Chính trị và Trung ương Đảng:
Ngày 27/02/2001 đồng chí Năm Thi trong Nam ra có đề nghị gặp tôi hỏi lại: Trước đây đồng chí có gửi đồng chí Lê Đức Thọ và tôi, và có gửi cho đồng chí Nguyễn Văn Linh khi đang làm Bí Thư ở thành phố Hồ Chí Minh một thư tố cáo đồng chí Lê Đức Anh nhiều vấn đề (6-7 vấn đề). Thư ấy đã được giải quyết ra sao, không được hồi âm mà đồng chí Lê Đức Anh càng ngày càng được lên cao để đến hôm nay gây rối cho Đảng.
Tôi trả lời đồng chí Năm Thi: Hôm qua, Uỷ ban kiển tra Trung ương đã hỏi tôi về vấn đề này, tôi đã trả lời những ý chính, nhưng bây giờ tôi không thể nhớ hết cả được. Anh Hai Xô cùng ngồi nghe ở đó nói: Tôi sẽ mời anh Đồng Văn Cống ra để báo cáo với Bộ Chính trị về vụ Xiêm Riệp trách nhiệm thuộc về ai?
Về thư của đồng chí Năm Thi tố cáo đồng chí Lê Đức Anh tôi đã trao đổi với anh Lê Đức Thọ, anh Thọ có ý kiến cụ thể như sau: Đây là vấn đề cần quan tâm nhưng chưa đủ cơ sở để kết luận, sau này sẽ tiếp tục kiểm tra (lúc này cũng đang rối lên về nhân sự chủ chốt của Đại hội VI). Sau khi Đại hội VI tôi cũng đã đặt vấn đề với anh Nguyễn Văn Linh nhưng anh Linh cũng không giao trách nhiệm để tổ chức kiểm tra (lý do cụ thể rất phức tạp, tôi không dám viết ra đây chỉ xin trực tiếp báo cáo với Bộ Chính trị hoặc Uỷ ban kiểm tra Trung ương).
Thư đã khá dài nhưng như vậy mới đủ cơ sở để Bộ Chính trị và Trung ương xem xét. Rất mong được Bộ Chính trị sớm giải quyết để không thể tiếp tục gây tác hại cho Đảng.
Hà Nội, ngày 01 tháng 01 năm 2001
Nguyễn Đức Tâm
Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương