Thứ Hai, ngày 14 tháng 7 năm 2014

QUAN ĐIỂM BÈ BẠN!


Tổng thống Mỹ Obama ngày 15.5 đã đề cử ông Ted Osius, một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, hàm Tham tán Công sứ, là Phó Giáo sư tại trường Đại học Chiến tranh Quốc gia, làm Đại sứ Mỹ tại Việt Nam.
 

Dưới đây là trình bày của Ted Osius trước Uỷ Ban Quan Hệ Quốc Tế - Thượng Viện Hoa Kỳ - về việc bổ nhiệm ông làm Đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam ngày 26-06-2014

Kính thưa ngài Chủ tịch và các thành viên của Uỷ ban Đối ngoại. Thật là một niềm vinh dự cho tôi để được trình bày với các ngài ở đây, với tư cách là người được Tổng thống bổ nhiệm vai trò Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Tôi cũng rất vui với sự hiện diện của các thành viên gia đình và bạn bè tôi hôm nay. Tôi xin cảm ơn ngài thượng nghị sỹ bang Maryland đã đồng ý làm chủ tịch uỷ ban, và tất cả các thành viên của uỷ ban đã xem xét sự bổ nhiệm này.
Đây thực sự là một giấc mơ đã thành hiện thực. Ở giai đoạn đầu trong nghề nghiệp của mình, tôi đã có một cơ hội vô cùng quí giá là được trợ giúp Pete Peterson, đại sứ đầu tiên của Hoa Kỳ tới Việt Nam sau ngày bình thường hoá quan hệ, trong việc đặt nền móng cho một mối quan hệ mới giữa hai quốc gia. Tôi cũng đã đại diện Phó Tổng Thống Al Gore trong một nhóm làm việc để chuẩn bị cho một thoả thuận thương mại song phương với Việt Nam, và tôi cũng được vinh dự đi cùng với Tổng thống Bill Clinton trong chuyến thăm lịch sử của ông đến Việt Nam.
Trong 25 năm làm việc ở bộ ngoại giao, tôi phục vụ chủ yếu ở châu Á. Một điểm sáng trong nghề nghiệp là việc tôi đã dẫn dắt một nhóm nhỏ để mở lại văn phòng đại diện tại thành phố Hố Chí Minh, mà trước kia là Sài gòn. Tôi đã rất sung sướng mang lại cho nước Mỹ thêm nhiều người bạn ở một nơi mà trước đây chỉ gợi nhớ người Mỹ về một cuộc chiến thảm khốc.
Tôi đã đi thăm khắp nơi ở Việt Nam, trong đó có một lần tôi đã đạp xe đạp suốt 1200 dặm từ Hà Nội đến Sài Gòn. Tại một vùng phi quân sự trước đây, tôi dừng xe trên một cây cầu, nhìn chăm chú vào một phong cảnh đẹp với rất nhiều hồ nước nằm rải rác. Một bà cụ già nói với tôi bằng tiếng Việt rằng đó không phải là những cái hồ tự nhiên, mà là những hố bom trước đây, có cả trong làng của bà nữa. Khi tôi nói với bà rằng tôi đại diện cho chính phủ và người dân Hoa Kỳ, bà trả lời tôi với ngôn từ thường dùng trong gia đình nghe thật thân thuộc: “Hôm nay, chúng ta là anh chị em”.
Ngay từ những ngày đầu, tôi đã chứng kiến là mối quan hệ của Hoa Kỳ với Việt Nam sẽ trở thành một mối quan hệ hợp tác quan trọng, được xây dựng dựa trên sự tôn trọng từ hai phía, và sự chia sẻ các mối quan tâm chiến lược.
Như ngoại trưởng Kerry đã nói vào năm ngoái ở Hà Nội, “một nước Việt Nam hùng mạnh, thịnh vượng và tôn trọng nhân quyền sẽ trở thành một người bạn đồng hành không thể thiếu của Hoa Kỳ trong nhiều thách thức ở khu vực và trên toàn cầu”. Trong khi ở thượng viện, John Kerry và John McCain đã cam đoan là người Mỹ có thể nghĩ về Việt Nam không chỉ là một cuộc chiến, mà còn là một quốc gia, một dân tộc mà Hoa Kỳ có thể hợp tác trong hoà bình. Họ đã nhìn xa hơn những hố bom để thấy được sự hy vọng cho tương lai.
John Kerry và John McCain cũng đã không ngừng đấu tranh cho sự tôn vinh những chiến sỹ đã hy sinh ở Việt Nam, và chúng ta phải hoàn tất công việc này với tất cả sự kính trọng. Lịch sử của chúng ta với Việt Nam không hề dễ dàng, thậm chí ngay hiện nay vẫn có những khác biệt. Nếu được chấp thuận cho vị trí này, tôi sẽ đối diện những khác biệt đó một cách thẳng thắn và trực tiếp với các lãnh đạo Việt Nam tại Hà nội. Tôi sẽ nói với họ rằng khi chính quyền Việt Nam tôn trọng nhân quyền, nó sẽ trở nên mạnh hơn, chứ không hề yếu hơn, và những tiềm năng hợp tác giữa hai nước cũng sẽ phát triển theo. Tôi sẽ gây áp lực để chính quyền Việt Nam phải bảo vệ các quyền cơ bản của con người, bao gồm việc thả các tù nhân lương tâm, và những thay đổi hệ thống để Việt Nam có thể gia nhập hoàn toàn vào cộng đồng thế giới. Cũng như trong một gia đình, những khác biệt giữa anh chị em đều có thể giàn xếp được, Hoa Kỳ và Việt Nam hoàn toàn có thể vượt qua những vướng mắc trong lịch sử.
Nếu được chuẩn thuận [cho vai trò Đại sứ tại Việt Nam], tôi sẽ làm hết sức mình để tăng cường các mối liên hệ gắn chặt hai dân tộc. Những liên hệ như vậy là trọng tâm của mối Quan Hệ Toàn Diện mà Tổng thống Obama và Chủ tịch Sang đã ký năm ngoái. Chẳng hạn như trong giáo dục, hiện đã có 16.000 du học sinh Việt Nam đang học tập tại Hoa Kỳ, và nhiều người khác đang tham gia vào Chương Trình Đào tạo Kinh tế Fullbright tại thành phố Hồ Chí Minh.
Thương mại là một yếu tố then chốt trong mối quan hệ giữa hai nước. Thương mại hai chiều đã tiếp tục tăng trưởng, từ 451 triệu USD vào 1995 đã lên đến gần 30 tỉ vào năm ngoái. Nếu thoả thuận về Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) đạt được, nó sẽ đẩy mạnh hơn nữa mối quan hệ thương mại và chiến lược này giữa hai nước, giúp Việt Nam gia nhập vào một cộng đồng các quốc gia góp phần vào 40% GDP của thế giới.
Qua mối Quan Hệ Toàn Diện, hai quốc gia đã cùng nhau làm việc để bảo vệ hoà bình, ổn định, hợp tác, và thịnh vượng cho vùng châu Á-Thái Bình Dương. Chúng ta cũng đã mở rộng hợp tác với Việt Nam trong các vấn đề về an ninh, việc ngăn chặn phổ biến vũ khí hạt nhân, và hành pháp. Nếu được chuẩn thuận, tôi sẽ tiếp tục những nỗ lực của những người tiền nhiệm trong việc làm sâu rộng hơn những can dự của Hoa Kỳ. Tôi sẽ cam đoan đảm bảo an toàn và an ninh cho đội ngũ làm việc tại Việt Nam.
Một nửa lượng hàng hoá vận chuyển bằng tàu biển của thế giới đi qua biển Đông. Hoa Kỳ có quyền lợi quốc gia trong việc bảo đảm dòng chảy kinh tế xuyên suốt, và tự do hàng hải và hàng không trong vùng biển này.
Hoa Kỳ quan tâm đến việc đảm bảo rằng những mâu thuẫn lãnh thổ và hàng hải trong biển Đông phải được giải quyết mà không dùng áp bức, sức mạnh quân sự, hay đe doạ, mà phải tuân theo luật pháp quốc tế. Thật đáng lo ngại khi chúng ta đã thấy một chiều hướng xấu gần đây là Trung quốc thường tiến hành các hành động đơn phương để thúc đẩy cho các đòi hỏi về lãnh thổ và lãnh hải; mà gần nhất là việc Trung quốc đưa một giàn khoan dầu vào vùng lãnh hải tranh chấp nằm ngay sát Việt Nam.
Quốc hội Hoa Kỳ đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thay đổi một quá khứ đầy khó khăn của chúng ta với Việt Nam thành một tương lai hứa hẹn. Nếu được chuẩn thuận, tôi sẽ mong đợi đến ngày được đón tiếp các ngài ở Hà Nội. Một lần nữa, xin cảm ơn vì đã xem xét sự bổ nhiệm tôi cho cơ hội đầy thử thách nhưng cũng thật vinh dự này, để tôi được tiếp tục phục vụ Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Ted Osius
(Liêm Nguyễn lược dịch theo bản gốc tiếng Anh
Theo blog Liem Nguyen)

Thứ Bảy, ngày 12 tháng 7 năm 2014

Sự thật về “công tử” Hà thành ra Trường Sa



Ngày 09 tháng 07 năm 2014
Gần đây, nhiều tờ báo và trang mạng ồn ào đăng bài ca ngợi “tấm gương” một thanh niên là con một đại gia ở Hà Nội “gác lại” dự định du học để ra Trường Sa thực hiện nghĩa vụ quân sự. Nhiều tờ báo dùng những cụm từ như “công tử Hà thành”, “thiếu gia” và không tiếc lời khen ngợi cậu ta như một tấm gương của ý chí, nghị lực, “tình yêu Tổ quốc” kèm theo những lời như “Tổ quốc cần lắm những con người như thế”(!). Nhưng sự thật về chàng “quý tử” này có phải như vậy không?…

Hỏa Lò mới và cuộc truy lùng 2 tử tù trốn trại chấn động

Nhân vật “hot” từ công luận
Nhân vật được nhắc đến trong nhiều bài báo chính là Binh nhì Nguyễn Quốc Đức, hiện là chiến sĩ thuộc Phân đội Pháo PK37 tại đảo Trường Sa Lớn (thuộc huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hoà). Đức là con thứ hai trong một gia đình có 5 anh em. Bố  nổi tiếng là “đại gia” buôn bán sắt vụn Nguyễn Quốc Thanh, sinh năm 1957, quê gốc Thanh Hóa, hiện cư trú ở quận Cầu Giấy (Hà Nội). Ông Nguyễn Quốc Thanh cũng chính là chủ lâu đài tráng lệ trên đường Hoàng Quốc Việt, được nhiều tờ báo đưa tin là công trình trị giá hơn 70 tỉ đồng, riêng 5 con gà dát vàng trên nóc lâu đài trị giá hơn 4 tỉ đồng.
Về việc Nguyễn Quốc Đức ra Trường Sa, được một số tờ báo thuật rằng, hầu như cả thời phổ thông trung học từ 2006 đến 2010, Đức từng du học ở Niu Di-lân và Ô-xtrây-li-a. “Một lần cháu nghe bác bạn của bố mẹ cháu nói chuẩn bị cho con sang Niu Di-lân học. Cháu rất thích ra nước ngoài học tập. Thế là bố mẹ lo cho sang Niu Di-lân học”. Năm 2006 lúc 11 tuổi Đức sang Niu Di-lân. Đức nói, tính Đức tò mò, rất thích khám phá. Vì vậy mỗi năm Đức chuyển một trường, đến một thành phố khác để vừa học, vừa khám phá. 7 năm học, 5 năm ở Niu Di-lân, 2 năm ở Ô-xtrây-li-a đã đủ những trải nghiệm cho cậu học trò 18 tuổi. “Chuyển trường nhiều như vậy, nhưng thành tích học tập của cháu năm nào cũng tốt, nhận giấy khen của trường nữa đấy chú ạ!”- Đức kể cho phóng viên một tờ báo.
Sau đó, vẫn theo lời kể của nhân vật này, đầu năm 2013, Đức về nước phụ giúp bố cháu công việc kinh doanh. Định bụng là lao ra thương trường một thời gian, có chút kinh nghiệm rồi sẽ đi học tiếp đại học ở nước ngoài. Nhưng sau đó, cậu ta đã cùng với bạn bè tham gia một khóa huấn luyện “Học kì Quân đội” ở Thái Nguyên và khi khoác lên mình chiếc áo nhà binh, cậu bỗng nổi hứng: “Sao không theo nghiệp nhà binh nhỉ?” và “quyết luôn” sẽ vào bộ đội. Đức về nhà trình bày nguyện vọng với bố mẹ xin cho lên đường nhập ngũ và dù bố mẹ thương, không muốn cho “đi lính vì sợ con trai vất vả”, Đức vẫn cố gắng thuyết phục bố mẹ rồi nộp đơn lên phường xin nhập ngũ. Về lí do chọn ra Trường Sa, Đức giãi bày: “Khi còn học ở nước ngoài, cháu có đọc và biết nhiều về Trường Sa, Hoàng Sa là nơi đầu sóng, ngọn gió của Tổ quốc, đang cần những thanh niên có ý chí và sức vóc canh trời, canh biển. Cháu nung nấu ước mơ được một lần ra với đảo, được đóng góp một phần công sức bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc”.
Thực chất, ra đảo để bớt “quậy”?
Nếu sự việc hoàn toàn đúng như những gì các bài báo tường thuật, thì quả thực đây là một “tấm gương”, một “hiện tượng lạ” đối với chàng thanh niên thành phố. Tuy nhiên, từ băn khoăn đi tìm bản chất câu chuyện lạ cậu “thiếu gia” đang sống ở nước ngoài trong nhung lụa lại xung phong ra Trường Sa chỉ vì “yêu Tổ quốc”, chúng tôi đã phát hiện ra nhiều điều bất thường khác.
Trước hết, ngay trên nhiều bài báo viết về nhân vật này, đã cho thấy cậu ta hoàn toàn không phải có một lí lịch “sạch” như nhiều lời tụng ca. Không ít người đã tỏ ra hoài nghi trước tình tiết “vì thích đi du lịch nên ra nước ngoài học mỗi năm chuyển một trường mà năm nào cũng được giấy khen”. Sự thật thì chính một bài trên VnExpress đã viết: “Sau đó, cậu học hành sa sút dần vào những năm cuối cấp. Được gia đình chu cấp đầy đủ, lại đang tuổi ăn, tuổi chơi nên Đức lơ là học tập”. Một videoclip được phát trên Đài Truyền hình Việt Nam dịp đầu Xuân 2014 đã phản ánh chân thật hơn cả về quá khứ của nhân vật này với những tình tiết như: Chơi bời, quậy phá, trước lúc ra đảo chủ yếu ăn chơi, lên sàn… Chính cậu ta cũng nói với phóng viên VTV: “Trước khi tôi nhập ngũ thì cuộc sống rất nhàn hạ, suốt ngày chỉ đi ăn, đi chơi, tụ tập bạn bè hát hò, rồi lên quán bar”. Cậu ta thừa nhận từng có một quá khứ “vô nghĩa”, “ưa tận hưởng cuộc sống, thích những phút giây điên cuồng trong đêm”. Phóng sự còn đưa hình ảnh cậu ta cởi trần, xăm trổ khắp người.
Cũng trong phóng sự này, nhân vật đã tiết lộ lí do thật ra Trường Sa, hoàn toàn không có những mĩ từ như “yêu Tổ quốc, lương tâm, trách nhiệm” như những bài báo gần đây. Nguyễn Quốc Đức nói: “Ở nhà thì đi chơi, lông bông ở ngoài nhiều quá làm bố mẹ phải lo lắng. Em đã làm bố mẹ rất buồn trong một thời gian tương đối dài. Em thương bố mẹ nên phải thay đổi bản thân”. “Em mong sau khóa huấn luyện ở Trường Sa về mọi người sẽ có cái nhìn khác về em. Em quyết định xoá bỏ những hình xăm của mình vì đấy là một quyết định để em từ bỏ quá khứ của em, làm lại!”.
Sau những chia sẻ thật thà với phóng viên VTV, gần đây khi trả lời báo chí, thông tin về Nguyễn Quốc Đức và gia đình về việc ra Trường Sa bỗng dưng thay đổi đột ngột, hoàn toàn không nhắc đến quá khứ mà chỉ còn một màu hồng. Nhân vật, như đã nói ở trên cho báo chí hay mình đã “thuyết phục bố mẹ cho ra Trường Sa”, “muốn góp sức bảo vệ chủ quyền biển đảo”, “đã tìm hiểu về Trường Sa từ khi còn ở nước ngoài”… Chàng trai còn đưa ra nguyện vọng “được phục vụ lâu dài trong Quân đội”, “về đất liền được học một trường sĩ quan”, “em ước mơ trở thành chính trị viên”…
Nếu những điều đó là sự thực thì dù kể cả Đức có một quá khứ đen đi chăng nữa nhưng quyết tâm phấn đấu, làm lại ở Trường Sa cũng là rất đáng trân trọng. Tuy nhiên, giữa lời nói và thực tế của câu chuyện lại hoàn toàn không thống nhất. Một sĩ quan trên đảo Trường Sa cho biết: Chiến sĩ trẻ này hoàn toàn không ngoan, không hiền; nỗ lực phấn đấu hay động cơ ra Trường Sa không đúng như một số bài báo nêu. Ngược lại, gia đình đã đưa cậu ta ra đảo gần như chỉ là một liệu pháp để cách li với quá khứ, bớt hư hỏng. Tuy nhiên, cậu ta đã không rèn luyện, phấn đấu nghiêm túc mà còn làm ảnh hưởng đến môi trường kỉ luật của đơn vị trong giai đoạn rất cần tập trung cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ biển đảo.
Một thanh niên khác vừa ra Trường Sa Lớn vào tháng 5/2014, có dịp giao lưu với Nguyễn Quốc Đức đã viết về cậu ta như sau: “Cu này và mình nhậu hết 2 chai ballantine 17 của nó ngoài Trường Sa, bố mẹ nó ra thăm như đi chợ. Đánh giá của cá nhân, mình rất có cảm tình với nó… Nhớ sau mấy trận giao lưu với anh em trên đảo, mình với đội lính thợ X201 mò vào đến phòng cu này với chỉ huy của nó thì đã chân nam đá chân chiêu rồi. Đồng chí chỉ huy quân hàm Thượng úy bảo hát xong về ngồi chờ mình mãi, 3 anh em chơi hết 1 chai ballantine thì nghe loa gọi về tàu, anh em vẫn mở thêm 1 chai nữa bắt uống 3 chén chia tay, lúc tàu kéo còi mới ba chân bốn cẳng chạy ra cảng. Lên tàu cuối cùng mà cảm xúc dâng trào…”. Người vợ một sĩ quan đang công tác trên đảo cũng cho hay chồng chị và đồng đội rất bất bình với việc thiếu ý thức tổ chức kỉ luật của quý tử này. Gần đây, “cậy” gia đình lắm tiền nhiều của, có nhiều “hỗ trợ” cho đơn vị, cậu ta chẳng những không chịu rèn luyện sửa mình như đã nói trên báo chí mà còn uống rượu say, quậy phá, cất giấu rượu. Trong khi với bộ đội Trường Sa, nhất là trong giai đoạn tình hình biển đảo đang nóng, yêu cầu trực sẵn sàng chiến đấu rất cao, việc sử dụng bia rượu bị cấm tuyệt đối. Vậy mà cậu ta đã vi phạm như vậy. Một chỉ huy khác cũng cho biết: Đơn vị vừa có hình thức kỉ luật với cả Phân đội trưởng và chiến sĩ Đức do việc này. Cậu ta hoàn toàn không phải là “tấm gương” như nhiều tờ báo đưa. Nói về các cán bộ, chiến sĩ quê Hà Nội ở trên đảo, người chỉ huy này cho biết còn nhiều người khác phấn đấu, rèn luyện rất tốt không được báo chí nêu. Vậy mà không hiểu sao, có lần phóng viên VTV khi ra đảo tác nghiệp, cứ nằng nặc xin phỏng vấn Nguyễn Quốc Đức và còn đưa kịch bản in sẵn ra, cho dù chỉ huy đảo không đồng ý mà muốn giới thiệu chiến sĩ khác.
Khi câu chuyện chiến sĩ này được đưa lên face book, bên cạnh những lời ngợi khen, có  chỗ comment còn nói thẳng: “Thằng này bị nghiện phải tống ra đây để cai”. Tất nhiên, những thông tin này cần phải được kiểm chứng, chưa đủ tin cậy nhưng rõ ràng động cơ chiến sĩ này ra Trường Sa không hoàn toàn vì “lòng yêu nước” như một số tờ báo ca ngợi. Mặc dù kết quả rèn luyện, công tác thấp như vậy nhưng không hiểu sao nhiều tờ báo vẫn tung hô rằng “Trường Sa cần lắm những con người như Đức” và cho biết sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, cậu sẽ về đất liền để thi vào một trường quân đội với ước mơ trở thành “chính trị viên”. Một chiến sĩ trên đảo cho biết, nhân vật kể rằng gia đình có người quen là lãnh đạo cấp cao nên việc đi học này đã được “lập trình”(?!). Nếu cậu ta không tu dưỡng, rèn luyện, sửa sai mà vẫn được ưu ái đi học thì quả là bất công đối với những người lính phấn đấu, hi sinh thực sự nhưng họ chỉ là con nông dân.
Nhìn nhận về hiện tượng này, một nhà  báo vừa có chuyến công tác ra đảo Trường Sa Lớn tâm sự: “Hôm ra Trường Sa Lớn mình đã biết cậu chiến sĩ này, cậu ấy kể chỉ riêng mấy con gà đậu trên nóc nhà cậu ấy cũng chừng 4 – 5 tỉ đồng… Cậu ấy khoe bố cậu ấy vừa đi tàu ra thăm, rằng tuần tới mẹ cậu ấy có thể bay trực thăng ra tiếp tế… Cậu ấy cho khách đến chơi biết cả phân đội cậu ấy chỉ uống Chivas 18… Nói chung là có rất nhiều thứ để kể. Mình không chê trách gì, chỉ thấy có lẽ hơi buồn, trong khi nhiều cán bộ, chiến sĩ đi đảo mấy chục năm trời, dăm ba cái Tết không được về nhà, chế độ ăn uống của bộ đội vẫn là 50% đồ hộp… Nhà báo, bạn đọc ca ngợi cậu ấy như một thanh niên chí khí, anh hùng… Mình không cần biết chuyện thực sự lí do cậu ấy ra đảo làm chiến sĩ là gì? Mình chỉ nghĩ việc thực hiện nghĩa vụ quân sự đối với một công dân đã được Hiến pháp và Luật Nghĩa vụ Quân sự quy định. Đó là trách nhiệm, là nghĩa vụ thiêng liêng, cao quý nhưng cũng rất đỗi bình thường. Vậy sao một thanh niên đi bộ đội lại được tung hô, lại được ca ngợi như thần thánh? Phải chăng bấy lâu nay chúng ta cứ mặc định rằng, nghĩa vụ quân sự chỉ áp dụng đối với con nhà nghèo? Rằng chỉ có nhà nghèo mới cho con đi lính? Còn nhà giàu đương nhiên có quyền không thực hiện nghĩa vụ quân sự? Vì vậy khi thấy một cậu quý tử nhà tỉ phú nào đó ra đảo làm chiến sĩ, chưa cần biết là vì sao nhưng cứ phải là một điều phi thường, lớn lao, vĩ đại? Chúng ta tô vẽ ảo tưởng biết đâu khiến cho cậu ấy lệch lạc, tự phụ và nghĩ rằng 15 tháng đảo xa của mình là thiên anh hùng ca?
 
Trường Sa có cần những “quân nhân lẻ” như vậy?
Nhìn lại việc chiến sĩ Nguyễn Quốc Đức ra Trường Sa cũng như một số trường hợp khác, sẽ thấy nhiều điều bất cập. Theo Luật Nghĩa vụ Quân sự và các văn bản dưới luật của Chính phủ, Bộ Quốc phòng quy định, không hề có khoản mục nào đối với việc tuyển những quân nhân lẻ ra Trường Sa để rèn luyện. Cụ thể, theo Thông tư số 07/2012/TT-BQP ngày 3/2/2012 của Bộ Quốc phòng do Đại tướng Phùng Quang Thanh kí quy định tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ lẻ thì những trường hợp được tuyển lẻ là tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ ngoài chỉ tiêu tuyển quân hằng năm theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Có hai đối tượng tuyển lẻ. Thứ nhất, tuyển lẻ theo nhu cầu biên chế, yêu cầu nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị và các nhiệm vụ đặc biệt gồm:Đào tạo Phi công quân sự; đào tạo sĩ quan, nhân viên chuyên môn kĩ thuật ở trong nước và nước ngoài; vận động viên ở các đoàn (đội) thể thao Quân đội; Diễn viên, nhạc công… ở các nhà hát, đoàn (đội) nghệ thuật chuyên nghiệp, quân nhạc chuyên nghiệp; thực hiện các nhiệm vụ khác theo yêu cầu của Quân đội. Thứ hai theo kế hoạch tuyển sinh quân sự của Bộ Quốc phòng. Tại Điều 6 của Thông tư quy định rõ các đối tượng tuyển lẻ theo yêu cầu nhiệm vụ với trình tự: Đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng có nhu cầu tuyển lẻ: Xây dựng kế hoạch, kiểm tra, xác định đối tượng tuyển lẻ có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 4 Thông tư này; lập báo cáo đề nghị Bộ Tổng tham mưu (qua Cục Quân lực); chỉ đạo đơn vị được tuyển lẻ liên hệ với địa phương có công dân tuyển lẻ để triển khai thực hiện quyết định tuyển lẻ của Tổng Tham mưu trưởng.
Đối chiếu với những quy định trên thì binh nhì Nguyễn Quốc Đức hoàn toàn không phải là trường hợp đặc biệt thuộc đối tượng tuyển lẻ. Còn đối tượng tuyển quân theo chỉ tiêu hằng năm năm 2013 cũng không có chỉ tiêu tuyển quân bổ sung ra Trường Sa ở nơi Nguyễn Quốc Đức đăng kí hộ khẩu thường trú. Rõ ràng, việc ra Trường Sa này không phải là “xung phong”, “thuyết phục gia đình” mà phải có sự tác động, được sự đồng ý của Cục Quân lực, Bộ Tổng tham mưu là những cơ quan chiến lược thuộc Bộ Quốc phòng đồng ý. Dư luận đặt câu hỏi, vì sao một thanh niên lêu lổng, chơi bời như thế, vừa học tập và sinh sống ở nước ngoài về, trước đó lại chơi bời làm bố mẹ buồn phiền nhiều như chính cậu ta thú nhận với báo chí vì sao lại được “tuyển lẻ” vào một đơn vị đặc biệt như vậy và nhanh như vậy? Lữ đoàn 146 Quân chủng Hải quân có thực hiện “ba gặp, bốn biết” để tìm hiểu kĩ về thân nhân chiến sĩ này không? Đó là chưa kể theo Thông tư số 167/2010/TT-BQP ngày 19/11/2000 của Bộ Quốc phòng vẫn do ông Phùng Quang Thanh kí có quy định rõ: “Những công dân xăm da (bằng kim) có hình mang tính kinh dị, kì quái, kích động, bạo lực gây phản cảm ở những vị trí lộ diện như mặt, cổ, tay (từ 1/3 dưới cánh tay trở xuống); chân (1/3 từ dưới đùi trở xuống), không gọi nhập ngũ vào Quân đội”. Vậy mà qua phóng sự của VTV, chiến sĩ Nguyễn Quốc Đức có rất nhiều hình xăm lớn trên cơ thể vẫn được gọi nhập ngũ.
Có lẽ, điều đáng quan tâm nhất xung quanh sự việc này là hiện tượng tuyển quân lẻ đối với các đơn vị trên quần đảo Trường Sa. Trường Sa là tuyến đầu của Tổ quốc, là nơi cần tuyển chọn những quân nhân có lí lịch rõ ràng, trong sạch, có hạnh kiểm và sức khoẻ tốt đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chứ hoàn toàn không phải là nơi rèn luyện các “quý tử” một thời hư hỏng. Yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu rất cao, nhất là khi tình hình biển đảo đang nóng như hiện nay. Điều gì sẽ xảy ra khi những quân nhân “công tử” không chịu rèn luyện, thường xuyên uống rượu say, sinh hoạt xa hoa với rượu mạnh như vậy? Đó không còn là chuyện riêng của cá nhân mà sẽ ảnh hưởng tới môi trường kỉ luật, nền nếp công tác, chế độ chiến đấu của một đơn vị có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong bảo vệ biển đảo hiện nay.
Có tin cho rằng, những năm gần đây, ở quần đảo Trường Sa, vẫn tồn tại hiện tượng một số quân nhân nghiện ma tuý nhưng vì gia đình có quan hệ nên vẫn được ra Trường Sa, lợi dụng danh nghĩa công tác để cai nghiện, rèn luyện. Thiết nghĩ việc này cần được Quân chủng Hải quân chấn chỉnh, bảo đảm sự trong sạch của môi trường công tác của một đơn vị đặc biệt trong bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
Theo Báo Người cao tuổi

Thứ Sáu, ngày 27 tháng 6 năm 2014

Tống Văn Công, cựu tổng biên tập báo Lao Động tuyên bố bỏ đảng


Trong bản tự kiểm điểm ngày 22-2, ở phần “tự nhận một hình thức kỷ luật”, tôi đã viết: 
Là một đảng viên hơn 55 năm đứng trong hàng ngũ Đảng Cộng sản Việt Nam, sống thanh bạch, 82 tuổi còn làm việc hợp đồng, lúc nào cũng nghĩ về vận nước và sự suy thoái của Đảng, tôi nghĩ rằng, tôi không phải thuộc số không nhỏ đảng viên thoái hóa chính trị mà chính những người bảo thủ, giáo điều không sáng suốt chấp nhận đổi mới chính trị, khiến cho một Đảng cách mạng, anh hùng trong sự nghiệp giải phóng, nay trở thành một Đảng độc đoán, tham nhũng mới đúng là những kẻ suy thoái chính trị. Do đó tôi không thể nhận bất cứ hình thức kỷ luật nào có tên là suy thoái tư tưởng chính trị.
 Tuy vậy, tôi không muốn tuyên bố từ bỏ Đảng mà xin nhường cho Đảng quyền khai trừ mình. Bởi vì làm như vậy, tôi sẽ yên lòng rằng, Đảng khai trừ tôi không phải là Đảng mà tôi từng tha thiết xin được gia nhập và thề phục vụ suốt đời. Và có lẽ nhờ đó mà mai kia tôi sẽ không còn quá băn khoăn về trách nhiệm đối với Đảng, không còn quá bức xúc cứ muốn góp ý xây dựng.
Ngày 24 tháng 2 năm 2014, tôi nhận được văn thư của đảng ủy cho rằng tự kiểm điểm của tôi “chưa đạt yêu cầu”, phải “nghiêm túc viết lại bản tự kiểm điểm và tự nhận hình thức kỷ luật“. Cùng với văn thư trên, có bản gợi ý nêu ra ba trường hợp mà theo Quyết định 47 -QĐ/TW là phải khai trừ: “Có quan điểm ủng hộ hoặc tán thành đa nguyên chính trị, đa đảng; công khai phê phán bác bỏ chủ nghĩa Mác -Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng.”
Tôi hiểu, Ban chỉ đạo muốn bảo rằng: Khuyết điểm của tôi là phải tự nhận hình thức khai trừ ra khỏi Đảng. Không làm như vậy thì tôi gây khó cho tổ chức Đảng. Nhưng làm như vậy thì thật là khó cho tôi. Bởi vì cho đến nay, tôi vẫn tự hào về cái ngày là anh lính vệ quốc đoàn, viết đơn xin vào Đảng để được noi gương các đảng viên trong giờ phút gay go của chiến dịch Cầu Kè năm 1950 (Trà Vinh) đã hô to “Các đảng viên cộng sản! Xung phong!” Tôi vẫn tự hào ngày được vào Đảng, giơ tay thề hy sinh chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành độc lập, thống nhất, dân chủ cho nhân dân. Còn chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản là gì thì, thú thật không chỉ tôi mà cả các bậc đàn anh cũng chẳng hiểu!
Càng tự hào về lý tưởng cao cả mà mình đã bỏ cả đời để phục vụ, tôi càng day dứt, xấu hổ vì sự thoái hóa, tham nhũng của một bộ phận không nhỏ những người trong guồng máy lãnh đạo, khiến Đảng cầm quyền phạm nhiều sai lầm, làm mất hết niềm tin của nhân dân, làm khoảng cách tụt hậu của đất nước càng ngày càng xa so với các nước khu vực. Những người lúc nào cũng hô hào kiên trì ý thức hệ lỗi thời, cấm không được tự diễn biến, thực ra, họ chỉ nhằm duy trì quyền lực, khai thác “lợi ích nhóm”, làm giàu cho bản thân, bất chấp thiệt hại của nhân dân lao động và đất nước. Giặc “nội xâm” bao giờ cũng là chỗ dựạ của giặc “ngoại xâm”. Bất kể bọn bành trướng hung hăng ra rả khẳng định toàn bộ Hoàng Sa, Trường Sa, cả “lưỡi bò” biển Đông là của Trung Quốc, lời họ đáp lại chủ yếu vẫn là kiên trì “16 chữ vàng” và “bốn tốt”, vì đây là “đồng chí cùng chung ý thức hệ”, cùng chống lại các thế lực thù địch phương Tây. Truyền thống bất khuất, lòng tự tôn dân tộc bị xúc phạm nghiêm trọng, làm mất dần sự đồng thuận xã hội trước hiểm họa đe dọa sự tồn vong của dân tộc, mà thực ra cũng là sự tồn vong của chính Đảng cộng sản Việt Nam.
Vì những lẽ đó mà thời gian qua, tôi hết sức tự kiềm chế, cố gắng tiếp tục đứng trong hàng ngũ Đảng để cùng với các đảng viên chân chính trực tiếp đấu tranh, góp ý xây dựng Đảng, hi vọng những người lãnh đạo nhận ra sai lầm, vứt bỏ ý thức hệ lạc hậu, tiến tới một Đại hội Đảng đổi mới lần 2: Đổi mới chính trị, thực hiện nhà nước pháp quyền đúng như các thể chế chính trị hiện đại. Từ đó mà vực dậy niềm tin đang cùng kiệt của nhân dân, tiếp tục sứ mệnh mà đảng viên và nhân dân giao cho.
Hôm nay, con đường ấy đã bị chặn lại. Đau lòng lắm, nhưng phải đành vậy thôi! Từ giờ phút này, từ ngày hôm nay, 25-2-2014, tôi xin nói lời chia tay với Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngày 25 tháng 2 năm 2014
© Tống Văn Công
http://m.tin247.com/tong_van_cong_cuu_tong_bien_tap_bao_lao_dong_tuyen_bo_bo_dang-6-22769480.html

Chủ Nhật, ngày 01 tháng 6 năm 2014

Tôi nhục, ổng không nhục

H1 

Giữa những ngày sôi sục, có hai tin nghe rất tức về Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Không chỉ tức, mà đại nhục.
Một. Báo The New York Times ngày 13/5/2014 đưa tin: một nhà ngoại giao cấp cao ở Bắc Kinh tiết lộ người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam (Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng) muốn qua Bắc Kinh gặp Tập Cận Bình để nói chuyện về Biển Đông, nhưng Tập Cận Bình không chịu gặp.
Nhục! Thằng ăn cướp đến cắm dùi trên đất nhà mình, khơi khơi nói chín khúc nhà mày là của tao, nhưng thay vì đương đầu đường hoàng như người có chính nghĩa trước kẻ cướp láo xược, thì chủ nhà lại len lén muốn đi đêm (chui nhủi như kẻ trộm), toan tìm đến nhà kẻ cướp (kiêu ngạo như chủ soái), mong gõ cửa, xin phép được gặp để tâu bẩm gì đó. Kẻ cướp nhìn thấy ắt phì cười, khinh bỉ, cho mày chết cú nữa, không thèm tiếp!
Nhưng, thế là sao? Ai là cướp, ai là trộm? Ai chủ ai, ai tớ ai?
Chỉ còn một cách hiểu: Chúng là đồng bọn. Tay chủ nhà bị cướp đang gõ cửa thực ra là tay sai, còn kẻ không thèm tiếp là chủ nó, coi nó và bè đảng của nó chẳng ra gì.
Bỗng nhớ chuyện thật này: Một ông bố có con gái 8 tuổi bị hãm hiếp. Nhưng thay vì đưa thủ phạm ra trị tội trước pháp luật, ông bố lại đến gặp thằng hiếp dâm để thỏa thuận: “Ra tòa hay không, tùy mày chi cho tao ít hay nhiều!” Xin lỗi, nghe chuyện, không thể không nghĩ ông bố đang chung tay hãm hiếp con mình.
Hai. Ngày 14/5/2014, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI kết thúc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có diễn văn bế mạc hội nghị. Diễn văn được giáo sư Trần Hữu Dũng đúc kết như sau:
“Diễn văn bế mạc của Nguyễn Phú Trọng có 7 đề tài chính. Hai đề tài đầu tiên (và dài nhất) là: 1) Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam, và 2) Tích cực đấu tranh với những biểu hiện lai căng. Đề tài thứ 4 là ngắn nhất, nói về quốc phòng, an ninh, đối ngoại… Không có bất cứ một chữ ‘Trung Quốc’ nào, và chỉ có duy nhất một chữ ‘Biển Đông’ (còn chữ Văn Hóa thì được nói đền hơn 30 lần).” [i]
Nhục! Trên thế giới, có lãnh tụ cao cấp nào khi kẻ xâm lược đã vào đến tận nhà lộng hành mà vẫn cứ thản nhiên đứng trước quần thần nói chuyện văn hóa lai tạp, không một lần dám gọi tên kẻ xâm lược, chỉ nhắc chuyện ngoại xâm cho có lệ, bất chấp hàng triệu người dân, trong đó có cả Đảng viên yêu nước, đang lòng như lửa đốt.
Nghe chuyện này, không thể không nhớ ngụ ngôn “Hoàng đế cởi truồng” của Hans Christian Andersen, và muốn lập tức trở thành thằng bé trong đám đông há hốc miệng, la toáng lên rằng: Ới bà con ơi! Ới đồng bào ơi! Ới đồng chí ơi! Ới công an, quân đội ơi… Tổng Bí thư cởi truồng!!!
Truồng bên người hùng
Mà truồng thật! Và không chỉ một, mà truồng cả cặp.
Tổng Bí thư Tập Cận Bình cởi truồng! “Giấc mơ Hoa” mỹ miều ông rêu rao không che đậy được giấc mộng Thiên triều bành trướng xấu xí dài nghìn năm.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cởi truồng! 16 chữ vàng vớ vẩn không che đậy được hình ảnh ông Trọng và bè đảng đang tồng ngồng khấu đầu ô nhục.
Thực ra, Tổng Bí thư truồng cũng lâu rồi, nhưng chỉ một số người thấy, đại chúng chưa thấy. Quả là tuyệt đại đa số dân Việt nói chung, cũng như bao dân tộc khác, ít quan tâm đến chính trị, chưa hẳn biết dân chủ là gì, cũng không quan tâm bao nhiêu đến nhân quyền, nhưng khi đụng đến chuyện giặc Tàu xâm lược Việt Nam thì lại là chuyện hoàn toàn khác. Tất cả 90 triệu dân, từ trẻ đến già, từ thất phu đến sĩ phu, sẽ lập tức sôi lên. Nhưng trong khi toàn dân sôi lên, máu chống Tàu như bản năng sinh tồn sôi lên, thì ông Trọng lại nguội lạnh, ung dung xem kẻ xâm lăng là bạn, và thế là cùng lúc, 90 triệu dân thấy ông truồng như nhộng.
Cả nước thấy rồi, này ông Trọng, ông còn ngồi đó làm gì? Ông từ chức đi!
Giữa khi Tổng Trọng truồng như thế và các đồng đảng khác của ông cũng chỉ thập thò trò hữu nghị, vừa trơ tráo vừa như gà phải cáo, thì trong tứ trụ lại có một cú chuyển ngoạn mục, từ số không, thậm chí âm không, vút trở thành người hùng (from zero to hero). Thật vậy, “đồng chí X”, từng được xem như tội đồ, bỗng chốc được hoan hô, và gần như được mọi người “xóa tội”, khi nói một câu để đời “không đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông.” Hoan hô đồng chí X.
Nhưng, sau tuyên bố lẫy lừng đó của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, dân Saigon bỗng dưng đâm lo, vì không biết liệu kẻ xấu có “thịt” ông không, không biết chuyến máy bay của ông có bị “tự nhiên” rớt như các quan chức lớn vừa rớt máy bay bên Lào không? Cũng có người bảo: Trung Quốc muốn có một chính quyền thân Tàu ở Việt Nam, và như thế, họ có thể “thịt” ông Dũng vì ông không chịu hàng, nhưng họ cũng có thể thịt luôn cả ông Trọng vì đã dở hơi để “lộ hàng”.
Dân Saigon cũng xì xầm rằng biết đâu Tàu có thể giựt dây đảo chính, để có một chính quyền bù nhìn, như các nước lớn như Liên Xô, hay Mỹ thời Chiến tranh Lạnh vẫn làm.
Quân đội và đảo chính
Chết, lớn chuyện rồi! Đảo chính! Lâu nay không ai nhắc điều này trong chính trường Việt Nam, nhưng vụ đảo chính vừa xảy ra bên Thái Lan làm mọi người nghĩ đến nó như một điều có thể, thậm chí không xa.
Nói tới đảo chính, Samuel Hungtington (nổi tiếng với Xung đột giữa các nền văn minh) có nhắc đến các loại đảo chính (coup d’etat) như: i) Đảo chính bứt phá để cải cách, lập chính quyền mới, nhân sự mới, thể chế mới; ii) Đảo chính “cung đình” để bảo vệ chế độ, chỉ thay người, không thay thể chế; và iii) Đảo chính trấn áp, khi chính quyền đương nhiệm đi quá xa, hoặc dân nổi loạn không theo ý quân đội. Cả ba loại đảo chính đều do quân đội tiến hành. [ii]
Quả thật, những ngày này, không thể không nghĩ đến vai trò của quân đội. Trong khi ở một xã hội dân chủ, quân đội đứng ngoài chính trị, chỉ phục vụ đất nước theo điều động của chính quyền dân cử, thì ở nước ta, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lại từng kịch liệt phản đối, xem là thoái hóa biến chất những ai đòi phi chính trị hóa quân đội, và luôn nhấn mạnh quân đội phải tuyệt đối trung thành với Đảng.
Thực ra, Tổng Trọng cũng chỉ học bài người ngoài dậy. Tập đoàn Giang-Hồ (Giang Trạch Dân – Hồ Cầm Đào) cũng đã học bài học này từ bộ đôi Mao-Đặng. Đặng Tiểu Bình có lần đã khẩn khoản chỉ bảo Giang Trạch Dân, khi Giang lên nắm chức Tổng Bí thư, rằng: ”Có năm ngày làm việc, hãy dành bốn ngày cho các tướng lĩnh chóp bu” (“Out of five working days, spend four with the top brass”). Và Giang-Hồ tuân răm rắp. Chỉ trong hai năm nắm quyền, Giang đã đích thân đến thăm và làm việc với 100 đơn vị quân đội.[iii]
Thực ra, giới cầm quyền Bắc Kinh đã từng e ngại đảo chính vào năm 1989, khi sinh viên xuống đường rầm rộ ở Thiên An Môn. Điều đáng nói là một số tướng lĩnh, khi được lệnh đưa quân đàn áp sinh viên, đã bất tuân thượng lệnh. Tiêu biểu là Trung tướng Từ Cần Tiên (Xu Qinxian) tư lệnh Quân đoàn 38 lừng danh thuộc Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa. Chuyện kể rằng, khi Tướng tư lệnh Quân khu Bắc Kinh yêu cầu ông điều quân dẹp sinh viên, ông đã hỏi đi hỏi lại: Có lệnh của Triệu Tử Dương chưa? (Triệu Tử Dương là Tổng Bí thư Đảng thời kỳ đó, là người ủng hộ sinh viên muốn dân chủ hóa.) Và khi biết không có lệnh của Triệu Tử Dương, Từ Cần Tiên đã nhất định không điều quân. Không chỉ có trung tướng họ Từ, người đỡ đầu ông là Tần Cơ Vĩ (Qin Jiwei) lúc đó là Bộ trưởng Quốc phòng và ủy viên Bộ Chính trị, cũng tìm cách liên kết với Triệu Tử Dương để chống thiết quân luật. Còn có tướng Hà Yên Nhiên (He Yanran), tư lệnh Quân đoàn 28, khi đám đông giận dữ đốt phá các xe thiết giáp của đơn vị ông, ông cũng đã bất tuân lệnh nổ súng đàn áp đám đông.[iv]
Đông Âu 1989
Quân đội bất tuân, hay án binh bất động, cũng đã từng xảy ra ở Đông Âu năm 1989, như trong cuộc Cách mạng Nhung ở Tiệp Khắc, và cuộc cách mạng ở Rumani lật đổ nhà độc tài Ceausescu. [v]
Thực vậy, các Đảng Cộng sản tại Tiệp Khắc và Rumani cho đến sát ngày cách mạng đều tự tin rằng chế độ mình sẽ trường tồn bất bại, Ceausescu vẫn hùng hồn trước hàng ngàn cử tọa ngoan ngoãn rằng: “Tương lai của chủ nghĩa xã hội còn dài. Nó chỉ chết khi nào quả lê rụng từ cành táo!” (Tiên tri làm sao! Đến nay, đúng là mác-lê đã rụng, “quả táo” mác-kinh-tốt đã phủ khắp từ Baltic đến Adriatic, từ Mỹ sang Âu qua Á.)
Xin lược qua vài diễn biến chính của Cách mạng Nhung để bạn đọc dễ hình dung, cũng vì tình hình đó và đây không phải không có điểm giống:
Cách mạng Nhung bắt đầu từ những cuộc biểu tình của quần chúng bị đàn áp, đỉnh điểm của cuộc đàn áp là khi 3000 người lọt vào điểm “phục kích” của công an, họ ngồi cả xuống, hát vang, công an ùa tới đánh đập dã man, hốt lên xe. Có âm mưu tạo cái chết giả nhằm kích động quần chúng giận dữ chống phe bảo thủ. Nhưng vô tác dụng. Quần chúng nổi giận. Diễn đàn Dân sự (Civic Forum do Vaclav Havel lãnh đạo) hình thành, ra công bố 4 điểm: yêu cầu Tổng Bí thư từ chức; yêu cầu Bí thư Thành ủy và quan chức đứng sau vụ đàn áp sinh viên từ chức; yêu cầu điều tra vụ đàn áp; yêu cầu thả tất cả tù nhân lương tâm. Diễn đàn kêu gọi tổng đình công 2 tiếng ngày thứ hai, từ 12 g đến 2 giờ, để thăm dò phản ứng của đại chúng. Nếu tất cả tham gia, thì ý chí của phe bảo thủ trong Đảng coi như tan tành. Quân đội thay vì đàn áp lại ở trong trại lính. Nhân dân xuống đường 6 đêm liền sau đó, tràn ngập quảng trường trung tâm. Đại diện chính quyền liên lạc kín với Diễn đàn Dân sự để thương lượng cuộc bàn giao quyền lực. Và cuối cùng Tổng Bí thư và toàn bộ hàng ngũ lãnh đạo Đảng Cộng sản Tiệp Khắc từ chức. Cách mạng thành công.
Tổng Bí thư Trọng rất có thể sẽ trở thành phiên bản của Tổng Bí thư Jakes của Tiệp Khắc, toan tính thẳng tay đàn áp quần chúng bằng công an, thiết quân luật, điều xe tăng vào thành phố… Jakes nói:
“Phải lấy sức chọi sức! Chúng ta không thể ngồi yên giương mắt nhìn hành vi của các nhóm hoạt động ngoài vòng pháp luật và bị nước ngoài giựt dây… Những âm mưu kích động các thành phần thanh niên Tiệp có thể đưa xã hội vào vòng khủng hoảng với hậu quả khó lường!”
Nghe quen quen! Cũng kích động, cũng “khó lường”…
Về phản ứng của những kẻ kiểm soát quân đội, vào giờ phút lâm chung, Phó Thủ tướng Tiệp Khắc Marian Calfa cho biết:
“Toàn bộ guồng máy công an và an ninh nằm trong tay chúng tôi. Vậy mà không ai có đủ dũng cảm, đủ nhạy bén, đủ bản lĩnh, nói chung là đủ những gì cần thiết để dùng vũ lực…”
Tổng Bí thư Jakes còn bị quan thầy Liên Xô giáng cho một đòn chí tử khi thông báo rằng ông không thể chờ mong gì ở các lực lượng Xô-viết, cũng không có bất cứ hỗ trợ chính trị nào để Jakes tiếp tục nắm quyền.
Về quần chúng, họ như vừa thoát xác, lớn lên chẳng khác gì Phù Đổng, như lời một người dân:
“Mỗi ngày trôi qua là một ngày dân chúng thấy mình mạnh mẽ hơn, và đứng thẳng lưng hơn. Tôi có cảm tưởng như tảng đá đè trong lòng suốt 20 năm vừa qua giờ đã được gỡ bỏ. Người Tiệp chúng tôi thấy mình đường hoàng hơn. Chúng tôi đã quá hèn mọn. Nhưng giờ chúng tôi bắt đầu cảm thấy tự hào. Quả là một cảm giác phi thường.”
Cuộc Cách mạng Nhung 1989 tại Tiệp Khắc cũng nhắc nhở vài điều quan trọng khác: Cần một phe đối lập, đại diện cho tiếng nói của quần chúng. Và để hình thành lực lượng này, cần có người đủ uy tín và tầm vóc để có thể quy tụ mọi phe phái, dù trái ngược nhau đến mấy. Những nhân vật cũ trong chính quyền mới, như ông Alexander Dubcek (tác giả của Mùa xuân Praha 1968) ban đầu được quần chúng tung hô, nhưng khi ông bộc lộ tư duy cũ, vẫn tin cậy chủ nghĩa xã hội thì dân phản đối ngay (Dubcek thất bại trong cuộc bầu cử, chỉ trở thành chủ tịch Hạ viện hậu cộng sản, trong khi Vaclav Havel trở thành tổng thống.) Một bài học cho các chính khách Việt Nam?
Phá Tống và dời đô
Giữa những ngày sôi động này bỗng nhớ các vị Lê Hoàn, Lý Công Uẩn và Lý Thường Kiệt.
Dường như các thày phong thủy, tướng số, tử vi của Trung Quốc quên đọc lại lịch sử, nên đã phạm một sai lầm cực lớn khi đưa giàn khoan HD-981 vào cắm ở biển Việt Nam, vì năm 981 chính là năm Lê Hoàn (Lê Đại Hành) nhà Tiền Lê phá tan quân Tống xâm lược.
Một trong những việc làm ghi dấu sử xanh là việc Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) dời kinh đô từ Hoa Lư về Thăng Long năm 1010. Và trong triều đại Nhà Lý, tôn giáo được phát triển, nhân tài được sử dụng, giáo dục được khai sáng, kinh bang tế thế được thực hiện hiệu quả làm dân giàu, nước mạnh.
Cũng chưa bao giờ nhiều người lại ngâm nga và thấm thía bài tuyên ngôn độc lập tuyệt vời, được Lý Thường Kiệt đọc năm 1077 khi đánh giặc Tống, như trong những ngày này:
“Non nước trời Nam vua Nam ở. Rành mạch định phận tại sách trời. Quân thù cớ sao xâm phạm tới. Rồi bay sẽ bị đánh tơi bời.”
Nói một câu hợp ý toàn dân là điều đáng hoan nghênh. Ra một tuyên ngôn nức lòng người là điều cần thiết. Nhưng có lẽ điều quan trọng nhất về lâu về dài, như Lý Công Uẩn đã làm, là dời đô, dời đổi thể chế, dứt khoát từ bỏ “chỗ chật hẹp không thể mở mang” để đất nước và lịch sử thực sự sang trang.
Thực ra, việc chuyển đổi thể chế có thể diễn ra trong nhiều tuần, nhiều ngày, hay chỉ qua một đêm.
 

Thứ Ba, ngày 20 tháng 5 năm 2014

HÔN


 Bài thơ này của Phùng Quán - sáng tác đúng vào thời kỳ Nhân văn giai phẩm nên có lúc người ta phải đề là thơ dịch để tồn tại.
Nhớ những ngày mà xem phim nước ngoài cứ sắp hôn nhau là bị che mất màn ảnh. Bây giờ thì KINH, GÌ CŨNG CÓ. Văn hóa văn nghệ mà Hội nghi TƯ 9 vừa khẳng định thắng lợi đấy.
Đó là tôi muốn nói về sự hoàn mỹ ở bài thơ này.
Hôn
Trời đã sinh ra em
Ðể mà xinh mà đẹp
Trời đã sinh ra anh
Ðể yêu em tha thiết
Khi người ta yêu nhau
Hôn nhau trong say đắm
Còn anh, anh yêu em
Anh phải ra mặt trận
Yêu nhau ai không muốn
Gần nhau và hôn nhau
Nhưng anh, anh không muốn
Hôn em trong tủi sầu
Em ơi rất có thể
Anh chết giữa chiến trường
Ðôi môi tươi đạn xé
Chưa bao giờ được hôn
Nhưng dù chết em ơi
Yêu em anh không thể
Hôn em bằng đôi môi
Của một người nô lệ.
Phùng Quán (1956)

"Chúng ta tôn trọng họ, nhưng họ đâu có tôn trọng chúng ta? Giờ đã là lúc không còn nhẫn nhịn được nữa rồi."


Tôi không ngạc nhiên khi Trung Quốc đưa giàn khoan lấn sâu vào thềm lục địa Việt Nam và mang cả một đội tàu hùng hậu, trong ấy có cả tàu chiến, rồi máy bay chiến đấu yểm trợ xâm lấn biển đảo Việt Nam. Vì sao tôi không thấy bất ngờ? Các bạn có thể nhìn lại các sự kiện vào năm 1974, 1979 và 1988 thì sẽ thấy rất rõ mưu đồ của Trung Quốc là muốn gặm dần lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả đất liền và trên biển.
Hoàng Sa, Trường Sa luôn là những chảo lửa, không biết sẽ bùng lên lúc nào. Đây cũng là vùng lãnh hải thiêng nhất và cũng bất an nhất của nước ta. Nếu đất nước của chúng ta có những biến động thì sẽ bắt đầu từ vùng sóng gió này.
Chúng ta đã tôn trọng, thực hiện đúng cam kết, nhưng Trung Quốc luôn nói một đằng làm một nẻo. Cái bi kịch lớn nhất của nước ta là lại phải ở bên cạnh một ông bạn nham hiểm và rất xấu tính. Ở các nước khác trên thế giới, trong đó hầu hết là các nước tư bản, họ sống với nhau rất êm đềm, hòa thuận. Tôi đi từ Pháp sang Đức, từ Pháp sang Bỉ, hay từ Anh sang các nước khác, không thấy có biên giới, không thấy hải quan. Cứ đi thẳng một lèo. Khi nhìn lên biển chỉ đường, thấy dòng chữ khác, mới hay mình đã sang nước khác rồi.
Ngay cả kẻ thù của chúng ta xưa như Pháp và Mỹ, mặc dù rất tàn bạo, nhưng họ không chiếm của ta một mét đất nào. Còn ta với Trung Quốc thì sao? Mang danh anh em “môi hở răng lạnh”, luôn nêu cao 16 chữ vàng, nhưng họ lấn của ta từng gốc cây ngọn cỏ. Họ nắn cả dòng chảy của sông suối để nước xói mòn sang phía ta. Đây là trò rất trẻ con và bẩn thỉu.
Ấy thế rồi cứ như tằm nhấm lá dâu, cả một vùng đất đai cương giới của ta nằm gọn trong túi họ. Xin đơn cử: Cửa Ải Nam quan, cột cây số không, nơi Nguyễn Trãi chia tay cha là Nguyễn Phi Khanh, giờ đã nằm sâu trong đất Trung Quốc đến hàng chục cây số.
Thác Bản Giốc vốn từ bao đời là danh thắng của chúng ta, giờ Trung Quốc đã chiếm một nửa rồi. Rồi Hoàng Sa là của chúng ta, Trung Quốc đã chiếm đóng trái phép từ mấy chục năm nay.
Và bây giờ, Trung Quốc lại đưa giàn khoan khủng, được xem như lãnh thổ di động của Trung Quốc được tàu chiến bảo vệ lấn sâu vào thềm lục địa của ta, rồi ngang nhiên tấn công các tầu thuyền chức năng của ta, vu vạ ta gây hấn với họ. Đó là một hành động ngang ngược và bẩn thỉu nhất. Đúng là một kẻ “vừa ăn cướp vừa la làng”.
Bây giờ, họ lại đòi ta phải rút hết tàu thuyền về rồi mới đàm phán. Thật là ngang ngược. Anh là một kẻ cướp. Anh cướp nhà tôi, rồi lại đuổi tôi ra đường để bàn chuyện sở hữu nhà cửa. Có chuyện ngược đời như thế không? Đúng ra, Trung Quốc phải rút hết tàu thuyền, di dời giàn khoan phi pháp ra khỏi khu đặc quyền kinh tế của ta rồi mới bàn gì thì bàn.
Trung Quốc phá ta không từ bất cứ thủ đoạn nào, kể cả những việc làm rất bần tiện, như cho thương lái sang ta mua mèo với giá cao, thế là vì cái “giá cao” ấy, mèo gần như tuyệt diệt, bà con nông dân phía Bắc phải chịu đại dịch chuột hoành hành, khiến cả mùa màng xiêu điêu.
Rồi họ lại sang mua móng trâu với giá cao. Cũng chẳng biết họ mua móng trâu làm quái quỷ gì mà mua với giá cao thế. Ở thời điểm ấy, cả chú trâu to lớn vật vã mới có 5 triệu bạc, mà chỉ riêng một cái móng trâu cũng đã gần một triệu bạc rồi. Thế là bà con nhẹ dạ lột móng trâu đem bán. Kết cục là trâu bò chết hàng loạt, ảnh hưởng nặng đến sức kéo của bà con nông dân nghèo phía Bắc.
Và rồi còn ghê rợn hơn nữa là việc Thương lái Trung Quốc hướng dẫn bà con ta làm chè bẩn để mua với số lượng rất lớn. Làm được bằng nào mua hết bằng ấy. Họ yêu cầu người làm chè trộn phân lân hoặc nước bùn đất vào búp chè tươi già, qua công đoạn vò, phơi, được loại chè khô vừa nặng, vừa dẻo, cánh chè xoăn và xanh. Chè bẩn được đóng bao, đóng gói chở đi kìn kìn. Họ mua chè bẩn với số lượng lớn như thế để làm gì thì chỉ có trời mới biết.
Khi Trung Quốc đăng cai Đại hội Olympic, trước con mắt của bạn bè quốc tế, họ mời ông Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang sang cùng chứng kiến cảnh họ đốt chè, với lý do chè Việt Nam bẩn không đảm bảo an toàn thực phẩm.
Vậy thì còn có quốc gia nào giám ký kết, đặt mua chè của ta? Hậu quả là chỉ sau 6 tháng, toàn bộ ngành chè xiêu điêu. Hàng loạt doanh nghiệp chè bị phá sản. Mới đây nhất là hàng ngàn xe dưa hấu thối ủng ở cửa khẩu. Và bây giờ ở cấp Quốc gia là chuyện giàn khoan. Ôi! Người anh em Trung Quốc, “môi hở răng lạnh”, người luôn nêu cao “mười sáu chữ vàng” mà lại hiện hình bần tiện nham hiểm và rúm ró như thế sao?
Thế kỷ 21 mà chúng ta đang sống đây, hàng hóa của Trung Quốc đã phủ khắp thế giới. Chẳng cần đến Trường Sa, Hoàng Sa và cả biển Đông thì Trung Quốc cũng vẫn là một quốc gia hùng mạnh vào bậc nhất thế giới, vậy thì việc gì phải vơ váo những thứ không phải của mình. Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam. Đó không phải chúng ta tự tuyên bố, mà chủ quyền đó đã được chính người Pháp và bạn bè quốc tế xác định từ mấy trăm năm trước.
Trong bản đồ địa giới, hải giới của Trung Quốc, từ đời nhà Thanh và trước nữa cho đến năm 1004 cũng không có Hoàng Sa, Trường Sa và cái đường lưỡi bò ma quỷ. Đấy là những bằng cứ hùng hồn, phủ nhận những trò tháu cáy của những kẻ tiểu nhân. Trung Quốc đã tự cô lập mình trước cộng đồng quốc tế, đặc biệt là với các nước trong khu vực, cùng thở chung một bầu khí quyển Biển Đông.
Trung Quốc đang sử dụng nhiều thủ đoạn nhằm tranh đoạt lãnh hải của Việt Nam, bao gồm cả việc chủ động sử dụng vũ lực tấn công tàu cảnh sát biển và tàu kiểm ngư Việt Nam.
Việt Nam chẳng sợ gì Trung Quốc. Sức mạnh của tình đoàn kết ở Việt Nam đã từng đánh bại nhiều kẻ thù sừng sỏ. Tuy nhiên, chọn con đường chiến tranh để giải quyết vấn đề biển đông là hạ sách mà không khéo lại mắc mưu Trung Quốc. Trung Quốc muốn gây hấn với ta, rồi lấy đó mà răn đe các nước khác. Tôi đồng ý với cách xử lý rất khôn ngoan nhất, là phải bình tĩnh, cảnh giác, tỉnh táo, không để Trung Quốc lừa phỉnh, giành lại và bảo vệ trọn vẹn lãnh thổ bằng con đường hòa bình.
Việc làm trước tiên là quốc tế hóa biển đông. Đây là vấn đề Trung Quốc ngại nhất, bởi họ khuất tất. Cần đoàn kết, liên minh với các nước trong khu vực cùng có quyền lợi ở Biển Đông rồi kéo cả thế giới vào cuộc. Nếu Trung Quốc không rút giàn khoan ở khu đặc quyền kinh tế của ta, chúng ta cũng sẽ phải làm như Philippine, kiện Trung Quốc ra tòa án Quốc tế. Nếu ra tòa, chắc chắn Trung Quốc thua.
Mặt khác, chúng ta cũng cần thông tin rộng rãi để 1,3 tỷ dân Trung Quốc hiểu vấn đề Biển Đông thực chất thế nào. Người dân Trung Quốc đang bị bưng bít. Sẽ rất nguy hiểm khi họ bị chính quyền Trung Quốc xuyên tạc và kích động, như họ đang rêu rao là chúng ta xâm phạm vùng kinh tế Trung Quốc, tàu ta đâm tàu Trung Quốc 170 lần… Các nhà cầm quyền Trung Quốc đang chơi trò đánh lạc hướng dư luận, đẩy xung đột ra ngoài biên giới khi gặp phải vụ bê bối ở Tân Cương.
Thật có lý khi một nhà báo đã đề nghị các báo điện tử của ta nên có trang bằng tiếng Trung Quốc, để giúp người dân Trung Quốc hiểu được thực chất vấn đề và không bị kích động. Cần lật tẩy những trò bẩn thỉu của giới cầm quyền Trung Quốc. Ngay trong giới học giả Trung Quốc, cũng có người hiểu được vấn đề, họ đã yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Tôi cũng mong rằng, Việt Nam sẽ có những ứng xử mạnh mẽ hơn nữa bằng con đường hòa bình để gìn giữ chủ quyền thiêng liêng của đất nước. Như tôi đã nói Trung Quốc vốn rất sợ đưa việc giải quyết những vấn đề ở biển Đông ra quốc tế, vì những gì họ hành động ở khu vực (đặc biệt là với Việt Nam) đã vi phạm Công ước Liên Hợp quốc và Luật biển 1982. Vậy thì tại sao chúng ta không tham khảo phương pháp của Philipin: Kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế? Chúng ta tôn trọng họ, nhưng họ đâu có tôn trọng chúng ta? Giờ đã là lúc không còn nhẫn nhịn được nữa rồi.
See Translation
Nhà thơ Trần Đăng Khoa:
Tôi không ngạc nhiên khi Trung Quốc đưa giàn khoan lấn sâu vào thềm lục địa Việt Nam và mang cả một đội tàu hùng hậu, trong ấy có cả tàu chiến, rồi máy bay chiến đấu yểm trợ xâm lấn biển đảo Việt Nam. Vì sao tôi không thấy bất ngờ? Các bạn có thể nhìn lại các sự kiện vào năm 1974, 1979 và 1988 thì sẽ thấy rất rõ mưu đồ của Trung Quốc là muốn gặm dần lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả đất liền và trên biển.
Hoàng Sa, Trường Sa luôn là những chảo lửa, không biết sẽ bùng lên lúc nào. Đây cũng là vùng lãnh hải thiêng nhất và cũng bất an nhất của nước ta. Nếu đất nước của chúng ta có những biến động thì sẽ bắt đầu từ vùng sóng gió này.
Chúng ta đã tôn trọng, thực hiện đúng cam kết, nhưng Trung Quốc luôn nói một đằng làm một nẻo. Cái bi kịch lớn nhất của nước ta là lại phải ở bên cạnh một ông bạn nham hiểm và rất xấu tính. Ở các nước khác trên thế giới, trong đó hầu hết là các nước tư bản, họ sống với nhau rất êm đềm, hòa thuận. Tôi đi từ Pháp sang Đức, từ Pháp sang Bỉ, hay từ Anh sang các nước khác, không thấy có biên giới, không thấy hải quan. Cứ đi thẳng một lèo. Khi nhìn lên biển chỉ đường, thấy dòng chữ khác, mới hay mình đã sang nước khác rồi.
Ngay cả kẻ thù của chúng ta xưa như Pháp và Mỹ, mặc dù rất tàn bạo, nhưng họ không chiếm của ta một mét đất nào. Còn ta với Trung Quốc thì sao? Mang danh anh em “môi hở răng lạnh”, luôn nêu cao 16 chữ vàng, nhưng họ lấn của ta từng gốc cây ngọn cỏ. Họ nắn cả dòng chảy của sông suối để nước xói mòn sang phía ta. Đây là trò rất trẻ con và bẩn thỉu.
Ấy thế rồi cứ như tằm nhấm lá dâu, cả một vùng đất đai cương giới của ta nằm gọn trong túi họ. Xin đơn cử: Cửa Ải Nam quan, cột cây số không, nơi Nguyễn Trãi chia tay cha là Nguyễn Phi Khanh, giờ đã nằm sâu trong đất Trung Quốc đến hàng chục cây số.
Thác Bản Giốc vốn từ bao đời là danh thắng của chúng ta, giờ Trung Quốc đã chiếm một nửa rồi. Rồi Hoàng Sa là của chúng ta, Trung Quốc đã chiếm đóng trái phép từ mấy chục năm nay.
Và bây giờ, Trung Quốc lại đưa giàn khoan khủng, được xem như lãnh thổ di động của Trung Quốc được tàu chiến bảo vệ lấn sâu vào thềm lục địa của ta, rồi ngang nhiên tấn công các tầu thuyền chức năng của ta, vu vạ ta gây hấn với họ. Đó là một hành động ngang ngược và bẩn thỉu nhất. Đúng là một kẻ “vừa ăn cướp vừa la làng”.
Bây giờ, họ lại đòi ta phải rút hết tàu thuyền về rồi mới đàm phán. Thật là ngang ngược. Anh là một kẻ cướp. Anh cướp nhà tôi, rồi lại đuổi tôi ra đường để bàn chuyện sở hữu nhà cửa. Có chuyện ngược đời như thế không? Đúng ra, Trung Quốc phải rút hết tàu thuyền, di dời giàn khoan phi pháp ra khỏi khu đặc quyền kinh tế của ta rồi mới bàn gì thì bàn.
Trung Quốc phá ta không từ bất cứ thủ đoạn nào, kể cả những việc làm rất bần tiện, như cho thương lái sang ta mua mèo với giá cao, thế là vì cái “giá cao” ấy, mèo gần như tuyệt diệt, bà con nông dân phía Bắc phải chịu đại dịch chuột hoành hành, khiến cả mùa màng xiêu điêu.
Rồi họ lại sang mua móng trâu với giá cao. Cũng chẳng biết họ mua móng trâu làm quái quỷ gì mà mua với giá cao thế. Ở thời điểm ấy, cả chú trâu to lớn vật vã mới có 5 triệu bạc, mà chỉ riêng một cái móng trâu cũng đã gần một triệu bạc rồi. Thế là bà con nhẹ dạ lột móng trâu đem bán. Kết cục là trâu bò chết hàng loạt, ảnh hưởng nặng đến sức kéo của bà con nông dân nghèo phía Bắc.
Và rồi còn ghê rợn hơn nữa là việc Thương lái Trung Quốc hướng dẫn bà con ta làm chè bẩn để mua với số lượng rất lớn. Làm được bằng nào mua hết bằng ấy. Họ yêu cầu người làm chè trộn phân lân hoặc nước bùn đất vào búp chè tươi già, qua công đoạn vò, phơi, được loại chè khô vừa nặng, vừa dẻo, cánh chè xoăn và xanh. Chè bẩn được đóng bao, đóng gói chở đi kìn kìn. Họ mua chè bẩn với số lượng lớn như thế để làm gì thì chỉ có trời mới biết.
Khi Trung Quốc đăng cai Đại hội Olympic, trước con mắt của bạn bè quốc tế, họ mời ông Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang sang cùng chứng kiến cảnh họ đốt chè, với lý do chè Việt Nam bẩn không đảm bảo an toàn thực phẩm.
Vậy thì còn có quốc gia nào giám ký kết, đặt mua chè của ta? Hậu quả là chỉ sau 6 tháng, toàn bộ ngành chè xiêu điêu. Hàng loạt doanh nghiệp chè bị phá sản. Mới đây nhất là hàng ngàn xe dưa hấu thối ủng ở cửa khẩu. Và bây giờ ở cấp Quốc gia là chuyện giàn khoan. Ôi! Người anh em Trung Quốc, “môi hở răng lạnh”, người luôn nêu cao “mười sáu chữ vàng” mà lại hiện hình bần tiện nham hiểm và rúm ró như thế sao?
Thế kỷ 21 mà chúng ta đang sống đây, hàng hóa của Trung Quốc đã phủ khắp thế giới. Chẳng cần đến Trường Sa, Hoàng Sa và cả biển Đông thì Trung Quốc cũng vẫn là một quốc gia hùng mạnh vào bậc nhất thế giới, vậy thì việc gì phải vơ váo những thứ không phải của mình. Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam. Đó không phải chúng ta tự tuyên bố, mà chủ quyền đó đã được chính người Pháp và bạn bè quốc tế xác định từ mấy trăm năm trước.
Trong bản đồ địa giới, hải giới của Trung Quốc, từ đời nhà Thanh và trước nữa cho đến năm 1004 cũng không có Hoàng Sa, Trường Sa và cái đường lưỡi bò ma quỷ. Đấy là những bằng cứ hùng hồn, phủ nhận những trò tháu cáy của những kẻ tiểu nhân. Trung Quốc đã tự cô lập mình trước cộng đồng quốc tế, đặc biệt là với các nước trong khu vực, cùng thở chung một bầu khí quyển Biển Đông.
Trung Quốc đang sử dụng nhiều thủ đoạn nhằm tranh đoạt lãnh hải của Việt Nam, bao gồm cả việc chủ động sử dụng vũ lực tấn công tàu cảnh sát biển và tàu kiểm ngư Việt Nam.
Việt Nam chẳng sợ gì Trung Quốc. Sức mạnh của tình đoàn kết ở Việt Nam đã từng đánh bại nhiều kẻ thù sừng sỏ. Tuy nhiên, chọn con đường chiến tranh để giải quyết vấn đề biển đông là hạ sách mà không khéo lại mắc mưu Trung Quốc. Trung Quốc muốn gây hấn với ta, rồi lấy đó mà răn đe các nước khác. Tôi đồng ý với cách xử lý rất khôn ngoan nhất, là phải bình tĩnh, cảnh giác, tỉnh táo, không để Trung Quốc lừa phỉnh, giành lại và bảo vệ trọn vẹn lãnh thổ bằng con đường hòa bình.
Việc làm trước tiên là quốc tế hóa biển đông. Đây là vấn đề Trung Quốc ngại nhất, bởi họ khuất tất. Cần đoàn kết, liên minh với các nước trong khu vực cùng có quyền lợi ở Biển Đông rồi kéo cả thế giới vào cuộc. Nếu Trung Quốc không rút giàn khoan ở khu đặc quyền kinh tế của ta, chúng ta cũng sẽ phải làm như Philippine, kiện Trung Quốc ra tòa án Quốc tế. Nếu ra tòa, chắc chắn Trung Quốc thua.
Mặt khác, chúng ta cũng cần thông tin rộng rãi để 1,3 tỷ dân Trung Quốc hiểu vấn đề Biển Đông thực chất thế nào. Người dân Trung Quốc đang bị bưng bít. Sẽ rất nguy hiểm khi họ bị chính quyền Trung Quốc xuyên tạc và kích động, như họ đang rêu rao là chúng ta xâm phạm vùng kinh tế Trung Quốc, tàu ta đâm tàu Trung Quốc 170 lần… Các nhà cầm quyền Trung Quốc đang chơi trò đánh lạc hướng dư luận, đẩy xung đột ra ngoài biên giới khi gặp phải vụ bê bối ở Tân Cương.
Thật có lý khi một nhà báo đã đề nghị các báo điện tử của ta nên có trang bằng tiếng Trung Quốc, để giúp người dân Trung Quốc hiểu được thực chất vấn đề và không bị kích động. Cần lật tẩy những trò bẩn thỉu của giới cầm quyền Trung Quốc. Ngay trong giới học giả Trung Quốc, cũng có người hiểu được vấn đề, họ đã yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Tôi cũng mong rằng, Việt Nam sẽ có những ứng xử mạnh mẽ hơn nữa bằng con đường hòa bình để gìn giữ chủ quyền thiêng liêng của đất nước. Như tôi đã nói Trung Quốc vốn rất sợ đưa việc giải quyết những vấn đề ở biển Đông ra quốc tế, vì những gì họ hành động ở khu vực (đặc biệt là với Việt Nam) đã vi phạm Công ước Liên Hợp quốc và Luật biển 1982. Vậy thì tại sao chúng ta không tham khảo phương pháp của Philipin: Kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế? Chúng ta tôn trọng họ, nhưng họ đâu có tôn trọng chúng ta? Giờ đã là lúc không còn nhẫn nhịn được nữa rồi.
Trần Đăng Khoa